Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi: HOÀNG LIÊN CHÂN GÀ – DƯỢC LIỆU QUÝ ĐA TÁC DỤNG     (1) Hoàng liên chân gà ( Coptis  chinensis  Franch) là cây  thân thảo, sống lâu năm,  ưa sống  ở vùng núi cao  1.000-2.500 m, mưa nhiều,  ẩm ướt.  Hiện  nay,  loài  dược  liệu  này  được  trồng nhiều tại Trung Quốc, chủ yếu  ở các tỉnh Tứ Xuyên, Vân Nam, Hồ  Bắc,  Thiểm  Tây,  Hồ  Nam,  Giang  Tây, Triết Giang, Sơn Tây. Tại Việt  Nam,  Hoàng  liên  chân  gà  phân  bố  chủ yếu ở huyện Sa Pa (Lào Cai) và  huyện Quản Bạ (Hà Giang). Hoàng  liên chân gà thuộc diện quý hiếm, đã  được đưa vào Sách đỏ của Liên minh  bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN)  năm 1980, Sách đỏ  Ấn Độ 1980 và  Sách đỏ Việt Nam năm 1996.       (2) Trong y học cổ truyền, Hoàng liên  chân  gà  có  vị  đắng,  tính  hàn.  Quy  kinh vào tâm, can, đởm, tiểu trường.  Có  tác  dụng  thanh  nhiệt  táo  thấp,  chủ trị các bệnh vị tràng thấp nhiệt  dẫn đến chứng lỵ, tiêu chảy; thanh  tâm  trừ  phiền:  tâm  hỏa  thịnh  gây  phiền muộn, mất ngủ, miệng lưỡi lở  loét; giải nhiệt độc ung nhọt, sốt cao,  phiền táo, chóng mặt, nói nhảm, mê  cuồng, lưỡi đỏ, mạch sác; thanh can  sáng mắt, điều trị các bệnh do can  hỏa gây đau mắt, đỏ mắt, chảy nước  mắt; giải độc ba đậu, khinh phấn.     (3) Ngày nay, dược liệu này đã được  nhiều  nhà  khoa  học  trên  thế  giới  nghiên cứu về thành phần hóa học  và tác dụng dược lý.      Thành  phần  hóa  học:  thân,  rễ  Hoàng  liên  chân  gà  có  chứa  nhiều  alcaloid  (5-8%),  với  các  thành  phần  chính  là  berberin,  palmatin,  jatrorrhizin,  coptisin,  epiberberin,  columbamin,  worenin,  magnoflorin...  Các thành phần alcaloid của Hoàng  liên  chân  gà  được  tìm  thấy  trong  hầu  hết  các  bộ  phận  của  cây,  tuy  nhiên  tỷ  lệ  alcaloid  trong  các  bộ  phận của cây thay đổi theo các giai  đoạn sinh trưởng và mùa. Vào tháng  9-10, ở thân và rễ nhỏ có hàm lượng  berberin cao; ở lá già trước khi rụng  (tháng 7-10) hàm lượng alcaloid cũng  thường cao; ở hoa có khoảng 0,56%  và hạt chứa 0,23% berberin. Ngoài  ra,  trong  thân,  rễ  của  Hoàng  liên  chân gà còn có tinh bột, acid hữu cơ  như acid ferulic... Trong số các thành  phần  hóa  học  nêu  trên,  berberin  được y học quan tâm nhiều nhất, tiếp  đến là palmatin.      Tác  dụng  dược  lý:  các  kết  quả  nghiên  cứu  cho  thấy,  Hoàng  liên  chân gà có nhiều tác dụng dược lý  khác nhau:      - Kháng khuẩn, kháng virus, kháng  nấm: nhóm nghiên cứu của Hàn Quốc  do Bae EA (1998) đứng đầu đã đánh  giá tác dụng của Hoàng liên chân gà  trên vi khuẩn  Helicobacter pylori , kết  quả  cho  thấy,  nước  sắc  từ  loài  cây  này có tác dụng làm giảm 16% hoạt  tính men urease và ức chế mạnh sự  phát triển của vi khuẩn  Helicobacter  pylori .  Các  nghiên  cứu  khác  cũng  đã chứng minh nước sắc Hoàng liên  chân  gà  và  hoạt  chất  berberin  có  phổ  kháng  khuẩn  rộng  đối  với  một  số chủng gram (+) và gram (-). Nước  sắc  thể  hiện  tác  dụng  ức  chế  một  số  vi  khuẩn  tùy  theo  độ  pha  loãng  khác nhau như:  Shigella shigac ,  Sh.  dysenteriae ,  Bacillus  tuberculosis ,  Bacillus  cholera ,  Staphylococcus  aureus ,  Bacillus  paratyphi ,  Bacillus  coli ,  Bacillus proteus ,  Streptococcus  hemolyticus ,  Vitrio cholera ,  Baccillus  subtilis ...  Cơ  chế  tác  dụng  kháng  khuẩn được giải thích là do berberin  ức chế tổng hợp ARN, ADN và protein  đối  với  vi  khuẩn.  Ngoài  ra,  Hoàng  liên chân gà còn có tác dụng kháng  nấm  và  virus.  Kết  quả  nghiên  cứu  cho thấy, nước sắc Hoàng liên chân  gà với nồng độ 50% khi thí nghiệm  trên phôi gà có tác dụng ức chế sự  phát triển của virus cúm chủng PR8,  56S8, P.M.     - Giảm hội chứng ruột kích thích  và điều trị viêm đường tiêu hóa: năm  2011,  Yungwui  Tjong  và  cộng  sự  (Hồng Kông, Trung Quốc) đã nghiên  cứu chiết xuất rễ Hoàng liên chân gà  và nhận thấy chúng có tác dụng giảm  những  cơn  đau  nội  tạng  trên  động  vật thực nghiệm, cơ chế có thể là do  làm  giảm  hormon  cholecystokinin  và serotonin - là những chất làm co  cơ  trơn  dẫn  tới  tăng  nhu  động  đại  tràng.  Cũng  trong  năm  này,  nhóm  nghiên  cứu  của  Qian  Zhang  và  cộng sự (Trung Quốc) đã cho thấy  tác  dụng  điều  trị  viêm  đường  tiêu  hóa của dược liệu Hoàng liên chân  gà. Theo đó, dịch chiết nước Hoàng  liên chân gà với liều 300 mg/kg cân  nặng và berberin với liều 120 mg/kg  cân nặng đã có tác dụng làm giảm  tổn thương đường tiêu hóa gây ra bởi  lip oposaccharose  theo  cơ  chế  làm  tăng hoạt động của SOD và GSH-Px, ức chế hoạt động của TLR4 và NF-jB  ở hồi tràng.     (4)  Đặc biệt, một số nghiên cứu được  công bố năm 2018 cho thấy, Hoàng  liên chân gà có tiềm năng để điều trị  bệnh  Alzheimer,  bảo  vệ  thần  kinh,  thận. Cụ thể, nhóm nghiên cứu của  Cao Thảo Nguyên và cộng sự (Việt  Nam)  đã  điều  tra  thành  phần  hóa  học  một  chiết  xuất  nước  của  dược  liệu  Hoàng  liên  chân  gà  và  xác  định  được  2  protoberberines  bậc  bốn (1, 2) và 1 amide ba vòng mới  (3), cùng với 5 hợp chất đã biết (4,  5, 6, 7, 8). Các hợp chất 4, 5 và 7  cho  thấy  sự  ức  chế  mạnh  đối  với  acetylcholinesterase  (AChE)  tương  ứng với các giá trị IC 50  là 1,1; 5,6 và  12,9 μ M. Hợp chất 2 và 4 cho thấy sự  ức chế butyrylcholinesterase (BChE)  tương ứng với giá trị IC 50  là 11,5 và  27,8 μ M. Qua nghiên cứu này, các tác  giả kết luận Hoàng liên chân gà là  dược liệu tiềm năng để điều trị bệnh  Alzheimer.  Tại  Trung  Quốc,  Yujuan  Li và cộng sự đã nghiên cứu tác dụng  bảo vệ thần kinh của polysaccharide  Hoàng liên chân gà trên mô hình giun  tròn  ( Caenorhabditis  elegans )  biến  đổi gen bị bệnh Alzheimer được gây  độc bằng amyloid-beta (A β ). Những  dữ liệu nghiên cứu chứng minh rằng  polysaccharide Hoàng liên chân gà  có thể làm giảm độc tính do A β  gây  ra bằng cách trì hoãn sự lão hóa, làm  giảm tốc độ tê liệt, ức chế sự lắng  đọng của A β , và tăng mức biểu hiện  của gen HSP trong giun tròn biến đổi  gen. Bên cạnh đó, Ying-Ying Wang và  cộng sự (Trung Quốc) đã chứng minh  rằng berberine (thành phần hoạt chất  chính của Hoàng liên chân gà) có thể  bảo  vệ  chức  năng  của  podocytes  thông qua ức chế chuyển TGF- β 1 từ  các tế bào Mesangial cầu thận sang  podocyte. Đây là một trong những cơ  chế tiềm năng của tác dụng bảo vệ  đối với bệnh thận do tiểu đường.       (5) Không chỉ dừng lại ở đó, Hoàng  liên chân gà còn được các công trình  nghiên cứu khoa học gần đây chứng  minh là dược liệu tiềm năng để điều trị  các bệnh về sa sút trí tuệ, tiểu đường,  phòng ngừa xơ vữa động mạch, lợi  mật, chống ung thư, hạ huyết áp, an  thần... Những tác dụng này đã được  Đỗ Huy Bích và cộng sự ghi chép lại  trong bộ sách  Cây thuốc và động vật  làm thuốc ở Việt Nam  do Nhà xuất  bản Khoa học và Kỹ thuật phát hành.     (6) Việt Nam là một quốc gia sở hữu  nguồn tài nguyên cây thuốc và tri thức  sử  dụng  cây  thuốc  vô  cùng  phong  phú, đa dạng. Nhu cầu sử dụng dược  liệu phục vụ cho việc chăm sóc sức  khỏe cộng đồng tương đối cao. Trước  tình trạng cạn kiệt nguồn Hoàng liên  chân gà ở nước ta cùng với việc xác  định  được  những  vai  trò  phòng  và  chữa bệnh hết sức quan trọng của vị  thuốc này trong y dược học cổ truyền  và y dược học hiện đại, cần phải có  những hướng nghiên cứu mới về cây  Hoàng liên chân gà nhằm phát triển  nguồn dược liệu và tiềm năng chữa  bệnh từ dược liệu quý này.     (7) Để bảo tồn các cây thuốc quý nói  chung, Hoàng liên chân gà nói riêng,  cách tốt nhất là hình thành nên chuỗi  giá trị cho chúng để bảo tồn và phát  triển bền vững trong thực tiễn cuộc  sống. Một số hoạt động nghiên cứu  cơ bản trong chuỗi giá trị như sau:  nghiên cứu quy trình kỹ thuật nhân  giống,  sản  xuất  giống  Hoàng  liên  chân  gà;  nghiên  cứu  quy  trình  kỹ  thuật  trồng  và  xây  dựng  mô  hình  trồng  Hoàng  liên  chân  gà;  sơ  chế,  chế biến tại vùng nguyên liệu để tạo  dược liệu Hoàng liên chân gà; nghiên  cứu  đánh  giá  các  thành  phần  hóa  học, tác dụng dược lý của dược liệu  trồng được so với dược liệu thu hái tự  nhiên và dược liệu nhập khẩu; nghiên  cứu bào chế sản phẩm bảo vệ sức  khỏe có sử dụng Hoàng liên chân gà  và các dược liệu khác đảm bảo được  tính an toàn, hiệu quả, đủ điều kiện  đưa ra thị trường.     (8) Nói  cách  khác,  nghiên  cứu  xây  dựng  cơ  chế  bảo  tồn  giống,  cơ  sở  sản xuất giống, hình thành các vùng  chuyên  canh  trồng  nguyên  liệu,  cơ  sở chế biến tại vùng nguyên liệu, tạo  ra những sản phẩm được bào chế từ  Hoàng liên chân gà là việc làm thiết  thực và cần thiết để bảo tồn nguồn  gen, tạo dược liệu quý cho y học cổ  truyền Việt Nam, góp phần chăm sóc  sức khỏe cộng đồng. (Nguồn: “Hoàng liên chân gà – dược liệu quý đa tác dụng”, Phùng Tuấn Giang, Tạp chí Khoa học & Công nghệ Việt Nam, số 12, năm 2018)

Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:

HOÀNG LIÊN CHÂN GÀ – DƯỢC LIỆU QUÝ ĐA TÁC DỤNG

    (1) Hoàng liên chân gà ( Coptis  chinensis  Franch) là cây  thân thảo, sống lâu năm,  ưa sống  ở vùng núi cao  1.000-2.500 m, mưa nhiều,  ẩm ướt.  Hiện  nay,  loài  dược  liệu  này  được  trồng nhiều tại Trung Quốc, chủ yếu  ở các tỉnh Tứ Xuyên, Vân Nam, Hồ  Bắc,  Thiểm  Tây,  Hồ  Nam,  Giang  Tây, Triết Giang, Sơn Tây. Tại Việt  Nam,  Hoàng  liên  chân  gà  phân  bố  chủ yếu ở huyện Sa Pa (Lào Cai) và  huyện Quản Bạ (Hà Giang). Hoàng  liên chân gà thuộc diện quý hiếm, đã  được đưa vào Sách đỏ của Liên minh  bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN)  năm 1980, Sách đỏ  Ấn Độ 1980 và  Sách đỏ Việt Nam năm 1996.  

    (2) Trong y học cổ truyền, Hoàng liên  chân  gà  có  vị  đắng,  tính  hàn.  Quy  kinh vào tâm, can, đởm, tiểu trường.  Có  tác  dụng  thanh  nhiệt  táo  thấp,  chủ trị các bệnh vị tràng thấp nhiệt  dẫn đến chứng lỵ, tiêu chảy; thanh  tâm  trừ  phiền:  tâm  hỏa  thịnh  gây  phiền muộn, mất ngủ, miệng lưỡi lở  loét; giải nhiệt độc ung nhọt, sốt cao,  phiền táo, chóng mặt, nói nhảm, mê  cuồng, lưỡi đỏ, mạch sác; thanh can  sáng mắt, điều trị các bệnh do can  hỏa gây đau mắt, đỏ mắt, chảy nước  mắt; giải độc ba đậu, khinh phấn.

    (3) Ngày nay, dược liệu này đã được  nhiều  nhà  khoa  học  trên  thế  giới  nghiên cứu về thành phần hóa học  và tác dụng dược lý.

     Thành  phần  hóa  học:  thân,  rễ  Hoàng  liên  chân  gà  có  chứa  nhiều  alcaloid  (5-8%),  với  các  thành  phần  chính  là  berberin,  palmatin,  jatrorrhizin,  coptisin,  epiberberin,  columbamin,  worenin,  magnoflorin...  Các thành phần alcaloid của Hoàng  liên  chân  gà  được  tìm  thấy  trong  hầu  hết  các  bộ  phận  của  cây,  tuy  nhiên  tỷ  lệ  alcaloid  trong  các  bộ  phận của cây thay đổi theo các giai  đoạn sinh trưởng và mùa. Vào tháng  9-10, ở thân và rễ nhỏ có hàm lượng  berberin cao; ở lá già trước khi rụng  (tháng 7-10) hàm lượng alcaloid cũng  thường cao; ở hoa có khoảng 0,56%  và hạt chứa 0,23% berberin. Ngoài  ra,  trong  thân,  rễ  của  Hoàng  liên  chân gà còn có tinh bột, acid hữu cơ  như acid ferulic... Trong số các thành  phần  hóa  học  nêu  trên,  berberin  được y học quan tâm nhiều nhất, tiếp  đến là palmatin.

     Tác  dụng  dược  lý:  các  kết  quả  nghiên  cứu  cho  thấy,  Hoàng  liên  chân gà có nhiều tác dụng dược lý  khác nhau:

     - Kháng khuẩn, kháng virus, kháng  nấm: nhóm nghiên cứu của Hàn Quốc  do Bae EA (1998) đứng đầu đã đánh  giá tác dụng của Hoàng liên chân gà  trên vi khuẩn  Helicobacter pylori , kết  quả  cho  thấy,  nước  sắc  từ  loài  cây  này có tác dụng làm giảm 16% hoạt  tính men urease và ức chế mạnh sự  phát triển của vi khuẩn  Helicobacter  pylori .  Các  nghiên  cứu  khác  cũng  đã chứng minh nước sắc Hoàng liên  chân  gà  và  hoạt  chất  berberin  có  phổ  kháng  khuẩn  rộng  đối  với  một  số chủng gram (+) và gram (-). Nước  sắc  thể  hiện  tác  dụng  ức  chế  một  số  vi  khuẩn  tùy  theo  độ  pha  loãng  khác nhau như:  Shigella shigac ,  Sh.  dysenteriae ,  Bacillus  tuberculosis ,  Bacillus  cholera ,  Staphylococcus  aureus ,  Bacillus  paratyphi ,  Bacillus  coli ,  Bacillus proteus ,  Streptococcus  hemolyticus ,  Vitrio cholera ,  Baccillus  subtilis ...  Cơ  chế  tác  dụng  kháng  khuẩn được giải thích là do berberin  ức chế tổng hợp ARN, ADN và protein  đối  với  vi  khuẩn.  Ngoài  ra,  Hoàng  liên chân gà còn có tác dụng kháng  nấm  và  virus.  Kết  quả  nghiên  cứu  cho thấy, nước sắc Hoàng liên chân  gà với nồng độ 50% khi thí nghiệm  trên phôi gà có tác dụng ức chế sự  phát triển của virus cúm chủng PR8,  56S8, P.M.

    - Giảm hội chứng ruột kích thích  và điều trị viêm đường tiêu hóa: năm  2011,  Yungwui  Tjong  và  cộng  sự  (Hồng Kông, Trung Quốc) đã nghiên  cứu chiết xuất rễ Hoàng liên chân gà  và nhận thấy chúng có tác dụng giảm  những  cơn  đau  nội  tạng  trên  động  vật thực nghiệm, cơ chế có thể là do  làm  giảm  hormon  cholecystokinin  và serotonin - là những chất làm co  cơ  trơn  dẫn  tới  tăng  nhu  động  đại  tràng.  Cũng  trong  năm  này,  nhóm  nghiên  cứu  của  Qian  Zhang  và  cộng sự (Trung Quốc) đã cho thấy  tác  dụng  điều  trị  viêm  đường  tiêu  hóa của dược liệu Hoàng liên chân  gà. Theo đó, dịch chiết nước Hoàng  liên chân gà với liều 300 mg/kg cân  nặng và berberin với liều 120 mg/kg  cân nặng đã có tác dụng làm giảm  tổn thương đường tiêu hóa gây ra bởi  lip oposaccharose  theo  cơ  chế  làm  tăng hoạt động của SOD và GSH-Px, ức chế hoạt động của TLR4 và NF-jB  ở hồi tràng.

    (4)  Đặc biệt, một số nghiên cứu được  công bố năm 2018 cho thấy, Hoàng  liên chân gà có tiềm năng để điều trị  bệnh  Alzheimer,  bảo  vệ  thần  kinh,  thận. Cụ thể, nhóm nghiên cứu của  Cao Thảo Nguyên và cộng sự (Việt  Nam)  đã  điều  tra  thành  phần  hóa  học  một  chiết  xuất  nước  của  dược  liệu  Hoàng  liên  chân  gà  và  xác  định  được  2  protoberberines  bậc  bốn (1, 2) và 1 amide ba vòng mới  (3), cùng với 5 hợp chất đã biết (4,  5, 6, 7, 8). Các hợp chất 4, 5 và 7  cho  thấy  sự  ức  chế  mạnh  đối  với  acetylcholinesterase  (AChE)  tương  ứng với các giá trị IC 50  là 1,1; 5,6 và  12,9 μ M. Hợp chất 2 và 4 cho thấy sự  ức chế butyrylcholinesterase (BChE)  tương ứng với giá trị IC 50  là 11,5 và  27,8 μ M. Qua nghiên cứu này, các tác  giả kết luận Hoàng liên chân gà là  dược liệu tiềm năng để điều trị bệnh  Alzheimer.  Tại  Trung  Quốc,  Yujuan  Li và cộng sự đã nghiên cứu tác dụng  bảo vệ thần kinh của polysaccharide  Hoàng liên chân gà trên mô hình giun  tròn  ( Caenorhabditis  elegans )  biến  đổi gen bị bệnh Alzheimer được gây  độc bằng amyloid-beta (A β ). Những  dữ liệu nghiên cứu chứng minh rằng  polysaccharide Hoàng liên chân gà  có thể làm giảm độc tính do A β  gây  ra bằng cách trì hoãn sự lão hóa, làm  giảm tốc độ tê liệt, ức chế sự lắng  đọng của A β , và tăng mức biểu hiện  của gen HSP trong giun tròn biến đổi  gen. Bên cạnh đó, Ying-Ying Wang và  cộng sự (Trung Quốc) đã chứng minh  rằng berberine (thành phần hoạt chất  chính của Hoàng liên chân gà) có thể  bảo  vệ  chức  năng  của  podocytes  thông qua ức chế chuyển TGF- β 1 từ  các tế bào Mesangial cầu thận sang  podocyte. Đây là một trong những cơ  chế tiềm năng của tác dụng bảo vệ  đối với bệnh thận do tiểu đường.  

    (5) Không chỉ dừng lại ở đó, Hoàng  liên chân gà còn được các công trình  nghiên cứu khoa học gần đây chứng  minh là dược liệu tiềm năng để điều trị  các bệnh về sa sút trí tuệ, tiểu đường,  phòng ngừa xơ vữa động mạch, lợi  mật, chống ung thư, hạ huyết áp, an  thần... Những tác dụng này đã được  Đỗ Huy Bích và cộng sự ghi chép lại  trong bộ sách  Cây thuốc và động vật  làm thuốc ở Việt Nam  do Nhà xuất  bản Khoa học và Kỹ thuật phát hành.

    (6) Việt Nam là một quốc gia sở hữu  nguồn tài nguyên cây thuốc và tri thức  sử  dụng  cây  thuốc  vô  cùng  phong  phú, đa dạng. Nhu cầu sử dụng dược  liệu phục vụ cho việc chăm sóc sức  khỏe cộng đồng tương đối cao. Trước  tình trạng cạn kiệt nguồn Hoàng liên  chân gà ở nước ta cùng với việc xác  định  được  những  vai  trò  phòng  và  chữa bệnh hết sức quan trọng của vị  thuốc này trong y dược học cổ truyền  và y dược học hiện đại, cần phải có  những hướng nghiên cứu mới về cây  Hoàng liên chân gà nhằm phát triển  nguồn dược liệu và tiềm năng chữa  bệnh từ dược liệu quý này.

    (7) Để bảo tồn các cây thuốc quý nói  chung, Hoàng liên chân gà nói riêng,  cách tốt nhất là hình thành nên chuỗi  giá trị cho chúng để bảo tồn và phát  triển bền vững trong thực tiễn cuộc  sống. Một số hoạt động nghiên cứu  cơ bản trong chuỗi giá trị như sau:  nghiên cứu quy trình kỹ thuật nhân  giống,  sản  xuất  giống  Hoàng  liên  chân  gà;  nghiên  cứu  quy  trình  kỹ  thuật  trồng  và  xây  dựng  mô  hình  trồng  Hoàng  liên  chân  gà;  sơ  chế,  chế biến tại vùng nguyên liệu để tạo  dược liệu Hoàng liên chân gà; nghiên  cứu  đánh  giá  các  thành  phần  hóa  học, tác dụng dược lý của dược liệu  trồng được so với dược liệu thu hái tự  nhiên và dược liệu nhập khẩu; nghiên  cứu bào chế sản phẩm bảo vệ sức  khỏe có sử dụng Hoàng liên chân gà  và các dược liệu khác đảm bảo được  tính an toàn, hiệu quả, đủ điều kiện  đưa ra thị trường.

    (8) Nói  cách  khác,  nghiên  cứu  xây  dựng  cơ  chế  bảo  tồn  giống,  cơ  sở  sản xuất giống, hình thành các vùng  chuyên  canh  trồng  nguyên  liệu,  cơ  sở chế biến tại vùng nguyên liệu, tạo  ra những sản phẩm được bào chế từ  Hoàng liên chân gà là việc làm thiết  thực và cần thiết để bảo tồn nguồn  gen, tạo dược liệu quý cho y học cổ  truyền Việt Nam, góp phần chăm sóc  sức khỏe cộng đồng.

(Nguồn: “Hoàng liên chân gà – dược liệu quý đa tác dụng”, Phùng Tuấn Giang, Tạp chí Khoa học & Công nghệ Việt Nam, số 12, năm 2018)


Câu 121525 Nhận biết

Hoàn liên chân gà là gì?


Đáp án đúng: a

Phương pháp giải

Đọc kĩ văn bản

Xem lời giải


Câu 121524 Nhận biết

Hoàn liên chân gà phát triển trong môi trường nào?


Đáp án đúng: d

Phương pháp giải

Đọc kĩ đoạn đầu

Xem lời giải


Câu 121523 Nhận biết

Tác dụng của Hoàng liên chân gà  trong y học cổ truyền là gì?


Đáp án đúng: a

Phương pháp giải

Đọc kĩ văn bản, chú ý đoạn (2)

Xem lời giải


Câu 121522 Nhận biết

Trong số các thành  phần  hóa  học  của Hoàng liên chân gà, thành phần nào được quan tâm nhiều nhất?


Đáp án đúng: a

Phương pháp giải

Đọc kĩ văn bản, chú ý đoạn (3)

Xem lời giải


Câu 121521 Nhận biết

Hoàng liên chân gà không có tác dụng dược lí nào dưới đây?


Đáp án đúng: d

Phương pháp giải

Đọc kĩ văn bản, chú ý đoạn (3)

Xem lời giải


Câu 121520 Nhận biết

Qua nghiên cứu, nhóm nghiên cứu của  Cao Thảo Nguyên và cộng sự kết luận Hoàng liên chân gà là  dược liệu tiềm năng để điều trị bệnh gì?


Đáp án đúng: a

Phương pháp giải

Đọc kĩ văn bản, chú ý đoạn (4)

Xem lời giải


Câu 121519 Nhận biết

Nội dung chính của đoạn (7) là gì?


Đáp án đúng: b

Phương pháp giải

Đọc kĩ văn bản, chú ý đoạn (7)

Xem lời giải


Câu 121518 Nhận biết

Hoàng liên chân gà ưa sống ở vùng núi có độ cao là bao nhiêu mét?


Đáp án đúng: a

Phương pháp giải

Đọc kĩ văn bản, chú ý đoạn cuối

Xem lời giải


Câu 121517 Nhận biết

Qúa trình nghiên cứu, tạo ra những sản phẩm được bào chế từ  Hoàng liên chân gà mang ý nghĩa?


Đáp án đúng: b

Phương pháp giải

Đọc kĩ văn bản, chú ý đoạn cuối.

Xem lời giải

...

>> Luyện thi TN THPT & ĐH năm 2022 trên trang trực tuyến Tuyensinh247.com. Học mọi lúc, mọi nơi với Thầy Cô giáo giỏi, đầy đủ các khoá: Nền tảng lớp 12; Luyện thi chuyên sâu; Luyện đề đủ dạng; Tổng ôn chọn lọc.

Thí sinh đọc bài đọc và trả lời các câu hỏi dưới đây:

PHÁT HIỆN NGƯỜI ĐEO KHẨU TRANG TRONG THỜI GIAN THỰC

(1) Việc đeo khẩu trang nơi công cộng đã góp phần hạn chế được sự lây lan của dịch bệnh COVID-19 trên toàn cầu. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều người dân chủ quan, thờ ơ không đeo khẩu trang nơi công cộng, đây là một trong những nguyên nhân gây ra sự lây lan dịch bệnh. Từ thực trạng trên, nhóm nghiên cứu của Trường Đại học Hàng hải đã thực hiện đề tài “Phát hiện người đeo khẩu trang trong thời gian thực” bằng mô hình mạng nơ-ron tích chập (CNN). Chương trình sẽ phát hiện người dân có đeo khẩu trang hay không và nhắc nhở những người không đeo khẩu trang bằng giọng nói.  Kết quả nghiên cứu cho thấy, mô hình CNN đạt độ chính xác tới 98,28% khi phát hiện người không đeo khẩu trang ngay cả trên điện thoại hoặc thực tế.

(2) Ngày 11/3/2020, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã ra tuyên bố gọi COVID-19 là "Đại dịch toàn cầu" . Để ngăn chặn tình trạng lây lan nhanh chóng của đại dịch, bên cạnh khuyến nghị mà WHO đưa ra về việc đeo khẩu trang ở nơi đông người, Chính phủ Việt Nam cũng đã yêu cầu người dân phải đeo khẩu trang tại các điểm công cộng để hạn chế sự lây lan của dịch bệnh. Khẩu trang giúp hạn chế việc hít thở trực tiếp các giọt không khí có chứa virus và các tác nhân gây bệnh khác hoặc khi tiếp xúc với người mang mầm bệnh; việc đeo khẩu trang cũng giúp ngăn ngừa virus xâm nhập trực tiếp qua đường hít thở khi người đó hắt hơi, ho hoặc nói chuyện.

(3) Hải Phòng là một trong những đô thị lớn của cả nước với mật độ dân số cao, lượng hàng hóa lưu thông ra vào thành phố lớn, là địa phương có nguy cơ lây lan virus SARS-CoV-2 cao. Nhận thấy số ca nhiễm trong cộng đồng ngày càng gia tăng, nhóm nghiên cứu của Trường Đại học Hàng hải Việt Nam đã tiến hành khảo sát thực tế vào tháng 4/2021 tại 5 tuyến phố chính trên địa bàn thành phố Hải Phòng bao gồm: Lạch Tray, Lê Lợi, Quang Trung, Tô Hiệu và Tôn Đức Thắng (những tuyến phố có mật độ dân cư đông). Khảo sát cho thấy, người dân vẫn còn lơ là, chủ quan với việc phòng, chống dịch COVID-19. Đặc biệt tại các khu chợ (Con và Lương Văn Can) vẫn còn tình trạng có người không đeo khẩu trang, hoặc có đeo khẩu trang trong quá trình đến chợ, nhưng khi hỏi mua hàng, tiếp xúc với tiểu thương lại bỏ khẩu trang xuống để giao tiếp. Nhiều người đeo khẩu trang nhưng không đúng quy định, không có tác dụng phòng chống dịch bệnh, tiềm ẩn rất nhiều nguy cơ lây nhiễm. Để giám sát người dân thực hiện theo đúng chỉ đạo của Chính phủ là khá khó khăn và tốn kém vì thiếu nguồn nhân lực để thực hiện. Nhằm hỗ trợ, nâng cao công tác giám sát và nhắc nhở người dân, nhóm nghiên cứu Trường Đại học Hàng hải đã triển khai thực hiện đề tài “Phát hiện người đeo khẩu trang trong thời gian thực” nhằm góp phần nhắc nhở, quản lý người đeo khẩu trang, cùng chung tay nâng cao ý thức cộng đồng, đẩy lùi đại dịch COVID. 

(4) Với sự phát triển nhanh chóng của học sâu (một chi của ngành học máy), đặc biệt là mô hình CNN, thị giác máy tính đã đạt được những tiến bộ đáng kể trong những năm gần đây về nhận dạng và phát hiện đối tượng. Nhóm nghiên cứu đã phát hiện người không đeo khẩu trang dựa trên mô hình CNN. Cụ thể, chương trình sẽ đưa ra cảnh báo trực tiếp nhắc nhở người không đeo khẩu trang nơi công cộng bằng giọng nói kết hợp gửi thông tin người vi phạm tới cơ quan giám sát.

(5) Nhóm nghiên cứu đã xây dựng cấu trúc chương trình gồm 3 bước sau:

- Bước 1:  thu thập dữ liệu chương trình bằng Python (ngôn ngữ lập trình bậc cao), sử dụng thư viện phần mềm mã nguồn mở OpenCV để phát hiện khuôn mặt người. Dữ liệu sau khi thu thập dưới dạng file ảnh (JPG) sẽ được lưu trữ ở hai file riêng biệt gồm: một file chứa 500 bức ảnh mô tả khuôn mặt đeo khẩu trang, file còn lại chứa 500 bức ảnh mô tả khuôn mặt không đeo khẩu trang. Các bức ảnh này sẽ đi qua tập Training set (chiếm 80% quá trình phân tích). Ở đây, nếu đầu vào (input) của bức ảnh là con người thì đầu ra (output) cũng sẽ là con người, ngược lại nếu input là bức ảnh con mèo thì output cũng sẽ trả kết quả con mèo. Mục đích của tập này nhằm phân biệt giữa con người và con vật. Sau đó, các bức ảnh một lần nữa qua tập Validation set (chiếm 20%) để kiểm thử độ chính xác của mô hình trong điều kiện ánh sáng, nhằm loại trừ trường hợp ánh sáng của bức ảnh làm ảnh hưởng tới chất lượng mô hình.

- Bước 2: sử dụng nguồn dữ liệu đã thu thập được ở bước 1 để phân tích dựa trên mô hình CNN. Ở giai đoạn này, xử lý tiền dữ liệu nhằm đưa tất cả các ảnh về cùng kích thước, sau đó các ảnh này sẽ được chuyển đổi để phục vụ cho quá trình xử lý ảnh ở bước sau. Dựa vào mô hình CNN, các nơ-ron tích chập được thiết kế đặc biệt để xử lý các phần tử quan trọng nhất trên bức ảnh nhằm đưa ra kết quả dữ liệu chính xác.

- Bước 3: phát hiện người đeo khẩu trang hay không. Bước này sẽ tiến hành phân tích so sánh dữ liệu được trích xuất từ camera (sau khi đã được xử lý dữ liệu đầu vào) với kết quả dữ liệu đã được phân tích để cảnh báo bằng giọng nói. Dựa vào kết quả thu được từ bước 2, dữ liệu sẽ hiển thị lên màn hình kết quả người dân có đeo khẩu trang hay không. Nếu người đó không đeo khẩu trang thì sẽ lập tức nhắc nhở thông qua lời nói trực tiếp. Việc nhắc nhở này sẽ được thực thi nhờ sự hỗ trợ của thư viện “pyttxs3 - thư viện hỗ trợ chuyển đổi văn bản thành giọng nói”.

(6) Có thể nói, việc xây dựng thành công chương trình phát hiện và nhắc nhở người không đeo khẩu trang có ý nghĩa quan trọng trong việc góp phần thực hiện nghiêm túc các biện pháp phòng chống dịch COVID-19, bởi khẩu trang chính là rào chắn đơn giản nhưng hiệu quả giúp ngăn các giọt bắn từ đường hô hấp của người tiếp xúc với người khác, từ đó hạn chế được sự lây lan dịch bệnh tới cộng  đồng, nhất là vào thời điểm hiện tại, khi dịch bệnh còn diễn biến rất phức tạp. Bên cạnh đó, dựa vào những kết quả thu được, có thể kết hợp chương trình này với các thiết bị phần cứng như Raspberry, Arduino… để xây dựng hệ thống giám sát và nhắc nhở người dân đeo khẩu trang ở những nơi đông người như: trung tâm thương mại, trường học, công viên

(Nguồn: “Phát hiện người đeo khẩu trang trong thời gian thực”, Trần Sinh Biên, Tạp chí Khoa học & Công nghệ Việt Nam, số 10, năm 2021)

Thí sinh đọc bài đọc và trả lời các câu hỏi dưới đây:

HỒI CHUÔNG CẢNH BÁO THẾ GIỚI VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

 (1) Ngày 9/8/2021, Ủy ban Liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) của Liên hợp quốc đã công bố báo cáo quan trọng về biến đổi khí hậu. Báo cáo dài gần 4.000 trang, do 234 nhà khoa học thực hiện dựa trên phân tích từ hơn 14.000 nghiên cứu.

(2) Báo cáo khẳng định, biến đổi khí hậu do con người gây ra đã và đang ảnh hưởng đến thời tiết, khí hậu của mọi khu vực trên toàn cầu. Nhiều hiện tượng thay đổi chưa từng có và sẽ “không thể đảo ngược” trong nhiều thế kỷ, thậm chí là thiên niên kỷ. Theo Tổng thư ký Liên hợp quốc António Guterres, Báo cáo chính là hồi chuông báo động khẩn thiết đối với nhân loại về cách con người đối xử với trái đất và tương lai của hành tinh này.

(3) Báo cáo mới công bố của IPCC đã lần đầu tiên khẳng định một cách chắc chắn về trách nhiệm của con người đối với việc ấm lên của trái đất, đồng thời khẳng định xu hướng này sẽ không dừng lại cho đến khi lượng phát thải khí nhà kính về 0; dự báo ngưỡng nóng lên của trái đất sẽ vượt qua 2C ngay trong thế kỷ này. Ngay cả khi các nhà khoa học soạn thảo báo cáo tỏ ra rất thận trọng khi đưa ra các đánh giá của mình thì những gì đang diễn ra trên hành tinh cũng đã nhấn mạnh thực tại khốc liệt của việc biến đổi khí hậu. Lũ lụt nghiêm trọng xảy ra trên khắp châu Âu và Trung Quốc; những trận hạn hán đáng báo động khởi đầu bằng các trận cháy rừng lớn ở miền Tây nước Mỹ và Canada. Một trong những nơi lạnh nhất trên hành tinh - Siberia, đã trải qua nắng nóng nghiêm trọng và cháy rừng. Mới đây, đầu tháng 8/2021, trên trang nhất một loạt các tờ báo của Anh, Mỹ xuất hiện hình ảnh một người phụ nữ lớn tuổi đau đớn, bất lực trước trận cháy rừng chưa từng có trên đảo Evia ở Hy Lạp - hình ảnh gói gọn cảm giác đau khổ và sợ hãi của con người nhỏ bé trước sự tức giận của thiên nhiên.

(4) Đáng tiếc là hầu như tất cả những thảm họa này đã  xảy  ra do tác động của con người. IPCC chỉ ra rằng, các tác động tổng hợp từ hoạt động của con người đã làm tăng nhiệt độ trung bình toàn cầu lên khoảng 1,1oC so với mức trung bình cuối thế kỷ XIX. Sự đóng góp của các yếu tố tự nhiên vào quá trình nóng lên toàn cầu, như mặt trời và núi lửa, được ước tính là gần bằng 0.

(5) Tổng thư ký Liên hợp quốc António Guterres đã gọi bản báo cáo của IPCC là “mã đỏ dành cho loài người”. Ông nhấn mạnh: những hồi chuông báo động đang vang  lên  chói  tai,  và bằng chứng không thể chối cãi là khí thải nhà kính từ việc đốt nhiên liệu hóa thạch và phá rừng đang làm nghẹt thở hành tinh của chúng ta, khiến cho hàng tỷ người bên bờ vực nguy hiểm. Báo cáo này cần phải là hồi chuông báo tử cho than đá và nhiên liệu hóa thạch trước khi chúng phá hủy hành tinh này.

(6) Báo cáo của IPCC dài 3.949 trang, do 234 nhà khoa học thực hiện dựa trên phân tích từ hơn 14.000 nghiên cứu. Báo cáo là bản tóm tắt rõ ràng và toàn diện nhất về biến đổi khí hậu (trong quá khứ, hiện tại và sẽ như thế nào trong nhiều thập kỷ tới). Báo cáo cũng chỉ ra cách con người có thể ảnh hưởng đến khí hậu trong tương lai thông qua các hành động mà họ thực hiện/hoặc không thực hiện ngay trong hiện tại để làm giảm lượng khí thải carbon dioxide và các khí nhà kính khác. Dưới đây là 5 điểm chính của báo cáo:

(7) Hoạt động của con người đã làm hành tinh ấm lên một cách rõ ràng. Không giống như các báo cáo trước đó, Báo cáo lần này khẳng định con người phải chịu trách nhiệm cho sự nóng lên toàn cầu. Sự gia tăng carbon dioxide trong khí quyển kể từ năm 1750 có liên quan trực tiếp đến hoạt động của con người, phần lớn là việc đốt than, dầu và các nhiên liệu hóa thạch  khác khi thế giới bước vào thời kỳ công nghiệp hóa. Lượng khí thải đó đã tăng lên rất nhiều theo thời gian và tiếp tục cho đến ngày nay. Các tác động của việc ấm lên này đang được cảm nhận ở mọi khu vực trên thế giới.

(8) Khoa học khí hậu ngày càng hoàn thiện và chính xác hơn. Hiện nay, các nhà khoa học có nhiều dữ liệu quan sát hơn (các phép đo nhiệt độ và dữ liệu khác từ các thiết bị trên đất liền, dưới đại dương và trong không gian) giúp dự đoán chính xác hơn về những gì đang xảy ra. Sự cải thiện này đặc biệt đáng chú ý ở một số khu vực kém phát triển hơn trên thế giới - trước đây vốn gặp nhiều khó khăn trong việc thu thập dữ liệu khí hậu. Các mô hình máy tính mô phỏng khí hậu cũng đã được cải thiện đáng kể, giúp cho việc chạy các mô hình nhanh hơn. Những cải tiến này, cộng với khả năng kết nối dữ liệu ngày càng nhiều, giúp các nhà khoa học tin tưởng vào khả năng dự báo chính xác của các mô hình khí hậu trong tương lai, đặc biệt là thấy rõ được mối liên quan giữa biến đổi khí hậu và các hiện tượng khí hậu cực đoan.

(9) Trong 30 năm nữa khí hậu sẽ chỉ xấu hơn cho dù chúng ta có làm gì đi nữa. Thế giới đã ấm lên khoảng  1,1oC  kể  từ  thế kỷ XIX. Báo cáo kết luận rằng, con người đã đưa quá nhiều carbon dioxide và các khí nhà kính khác vào bầu khí quyển đến mức sự nóng lên sẽ tiếp diễn ít nhất cho đến giữa thế kỷ này, ngay cả khi các quốc gia thực hiện ngay lập tức việc cắt giảm mạnh lượng khí thải. Điều đó có nghĩa là, một số tác động đáng chú ý mà thế giới đang chứng kiến hiện nay - như hạn hán cực đoan, các đợt nắng nóng gay gắt, những trận mưa như trút nước và lũ lụt - sẽ tiếp tục tồi tệ hơn trong vòng ít nhất 30 năm tới. Những tảng băng khổng lồ ở Greenland và Tây Nam Cực sẽ tiếp tục tan chảy ít nhất là cho đến cuối thế kỷ này. Mực nước biển có thể tiếp tục tăng trong nhiều thiên niên kỷ nữa.

(10) Biến đổi khí hậu đang diễn ra nhanh chóng. Một số  thay  đổi của khí hậu đang  diễn  ra  với tốc độ nhanh hơn nhiều so với các thế kỷ trước, thậm chí là nhiều thiên niên kỷ trước. Ví dụ, nồng độ carbon dioxide trong khí quyển lớn hơn bất kỳ thời điểm nào trong hai triệu năm qua. Mức độ băng biển vào cuối mùa hè    ở Bắc Cực thấp hơn bất kỳ thời điểm nào trong 1.000 năm qua. Báo cáo cũng chỉ ra tốc độ này đang diễn ra nhanh hơn nhiều trong những năm gần đây. Mực nước biển dâng đã tăng gần gấp đôi kể từ năm 2006. Mỗi thập kỷ trong bốn thập kỷ qua đều liên tiếp ấm hơn so với trước đó. Các đợt nắng nóng trên đất liền trở nên nóng hơn đáng kể kể từ năm 1950, và các đợt nắng nóng trên biển (những đợt nhiệt độ cực cao trong đại dương có thể giết chết các sinh vật biển) đã tăng gấp đôi tần suất trong 4 thập kỷ qua.

(11) Con người vẫn còn một cánh cửa hẹp. Báo cáo đưa ra 5 tương lai của khí hậu, trong đó con người thực hiện các bước khác nhau để giảm lượng khí thải gây ra hiện tượng ấm lên. Theo hầu hết các kịch bản được thảo luận trong báo cáo, hiện tượng ấm lên sẽ tiếp tục diễn ra sau năm 2040, cho đến hết thế kỷ này. Trong trường hợp xấu nhất, khi thế giới không làm gì để giảm lượng khí thải, nhiệt độ vào năm 2100 có thể cao hơn từ 3 đến 6oC so với mức trước thời kỳ công nghiệp. Điều đó sẽ gây ra hậu quả thảm khốc. Nhưng báo cáo cũng cho thấy, nếu lượng khí thải được cắt giảm mạnh mẽ, nhanh  chóng và rộng rãi, bắt đầu từ bây giờ, có thể hạn chế sự nóng lên sau năm 2050. Trong kịch bản lạc quan nhất, nếu lượng khí thải bằng “0” thì sự nóng lên toàn cầu có thể được giới hạn ở mức 1,5C vào cuối thế kỷ này (đạt mức cao nhất  là  1,5C  vào  giữa  thế  kỷ trước khi giảm xuống dưới 1,5C vào năm 2100). Tuy nhiên, kịch bản này sẽ cần chi phí khổng lồ và đặc biệt là những cam kết và ý chí chính trị thống nhất của các nhà lãnh đạo trên toàn cầu - điều mà rất khó để đạt được.

(Nguồn: “Hồi chuông cảnh báo thế giới về biến đổi khí hậu”, Thu Phương, Tạp chí Khoa học & Công nghệ Việt Nam, số 9, năm 2021)

Thí sinh đọc bài đọc và trả lời các câu hỏi dưới đây:

Nghiên cứu thuốc ức chế virus sars-coV-2 từ thảo dược

(1) Ngày 10/8/2021, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ (KH&CN) Việt Nam đã tổ chức họp báo trực tuyến công bố kết quả nghiên cứu tiền lâm sàng thuốc điều trị Covid-19 từ thảo dược. Kết quả nghiên cứu đã chứng minh tính an toàn và khả năng ức chế phát triển virus SARS-CoV-2 cũng như tác dụng tăng cường miễn dịch của thuốc.

(2) Tình hình đại dịch do virus SARS-CoV-2 gây ra đang diễn biến rất phức tạp. Tính đến ngày 3/9/2021, cả thế giới đã có hơn 220 triệu người nhiễm Covid-19, trong đó có gần 4,6 triệu người đã tử vong. Tại Việt Nam, kể từ đầu dịch đến ngày 4/9/2021 đã có hơn 500 nghìn ca nhiễm, đứng thứ 53/222 quốc gia và vùng lãnh thổ (bình quân cứ 1 triệu người có 5.103 ca nhiễm), trong đó có khoảng 7,2 nghìn ca đã tử vong. Trước tình hình này, việc nghiên cứu tạo vắc-xin, đồng thời rút ngắn thời gian thử nghiệm để sớm có được vắc-xin đối phó  với tình hình đại dịch hiện nay là nhiệm vụ cấp bách. Tuy nhiên, dù có nhiều loại vắc-xin đã được cấp phép sử dụng, nhưng với sự xuất hiện các biến chủng với tốc độ lây lan nhanh và gây mức độ bệnh trầm trọng đã đặt ra những thách thức lớn đối với công tác nghiên cứu sản xuất vắc-xin. Vì vậy, việc nghiên cứu sản xuất thuốc hỗ trợ điều trị virus SARS- CoV-2 được xác định là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng.

(3) Là một cơ quan chủ chốt về KH&CN của đất nước, từ khi bùng phát dịch Covid-19 đến nay, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam đã tích cực triển khai các nghiên cứu phục vụ phòng chống dịch như: nghiên cứu thành công bộ KIT phát hiện virus SARS-CoV-2 (3/3/2020), nghiên cứu giải trình tự toàn bộ hệ gen của bốn chủng virus SARS-CoV-2 (1/6/2021) làm cơ sở thực hiện nghiên cứu vắc-xin và các chế phẩm ức chế virus SARS-CoV-2. Và mới đây, góp phần vào nỗ lực của các nhà khoa học Việt Nam trong nghiên cứu thuốc, vắc-xin và sinh phẩm phục vụ công tác phòng chống đại dịch Covid-19, nhóm nghiên cứu do PGS.TS Lê Quang Huấn (Viện Công nghệ sinh học thuộc Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam) dẫn đầu đã liên kết với Công ty CP Dược phẩm Vinh Gia, Công ty CP Hóa dược Việt Nam nghiên cứu thử nghiệm thuốc điều trị Covid-19 nhằm mục đích phòng và hỗ trợ điều trị các bệnh do virus có hệ gen ARN gây ra, đặc biệt là virus SARS-CoV-2 đang gây đại dịch Covid-19 trên toàn thế giới.

(4) Nhận thấy tiềm năng từ các thảo dược truyền thống, PGS.TS. Lê Quang Huấn cùng các cộng sự đã sử dụng công nghệ tin sinh học để sàng lọc các hoạt chất chính có ái lực liên kết mạnh với các phân tử đích (là các phân tử liên quan tới quá trình xâm nhập và tăng sinh của virus SARS- CoV-2) trong thảo dược. Qua đó lựa chọn được tổ hợp các loại thảo dược không chỉ có dược tính mạnh mà còn có khả năng cộng hưởng để nâng hiệu quả điều trị lên mức cao nhất. Từ cao chiết của các thảo dược này, nhóm nghiên cứu đã điều chế thành công sản phẩm dưới dạng viên nang cứng.

(5) Kết quả nghiên cứu tiền lâm sàng cho thấy, ở nồng độ 50 g/ml sản phẩm nghiên cứu có khả năng ức chế được sự phát triển của SARS-CoV-2 ở nồng độ tới 10 PFU (đây là nồng độ virus mà khi xét nghiệm mẫu sinh phẩm cho kết quả dương tính - F0) tương ứng với giá trị Ct=20,5 khi xét nghiệm bằng kỹ thuật real- time PCR. Nghĩa là, sản phẩm nghiên cứu có tác dụng ức chế mạnh sự tăng sinh của vurus SARS-CoV-2.

(6) Kết quả đánh giá khả năng tăng cường miễn dịch trên động vật thí nghiệm của sản phẩm nghiên cứu cho thấy: với liều 2,88 viên/kg/ngày (tương đương với liều dự kiến điều trị trên lâm sàng) uống liên tục trong 7 ngày có xu hướng kích thích miễn dịch trên mô hình gây suy giảm miễn dịch cấp tính bằng cyclophosphamid, thể hiện như sau: (1) Xu hướng tăng cường đáp ứng miễn dịch tế bào (xu hướng tăng phản ứng bì với kháng nguyên OA); (2) Cải thiện tình trạng tổn thương lách và tuyến ức.

(7) Với liều 5,76 viên/kg/ngày (gấp 2 lần liều tương đương với liều dự kiến điều trị trên lâm sàng) uống liên tục trong 7 ngày có tác dụng kích thích miễn dịch trên mô hình gây suy giảm miễn dịch cấp tính bằng cyclophosphamid, thể hiện như sau: (1) Tăng cường đáp ứng miễn dịch dịch thể (tăng rõ rệt nồng độ IgM trong máu ngoại vi); (2) Tăng cường đáp ứng miễn dịch tế bào (xu hướng tăng phản ứng bì với kháng nguyên OA, tăng nồng độ TNF-α trong máu ngoại vi); (3) Cải thiện tình trạng tổn thương lách và tuyến ức.

(8) Như vậy có thể thấy, sản phẩm nghiên cứu có tác dụng trên nhiều cơ chế khác nhau: (1) Phong tỏa Spike-S của virus SARS-CoV-2 và thụ thể ACE2 trên tế bào chủ để ngăn chặn sự tiếp xúc và xâm nhập của virus vào tế bào; (2) Ức chế các enzyme liên quan tới quá trình nhân lên của virus SARS- CoV-2; (3) Kích hoạt các tế bào của hệ miễn dịch ở người bệnh. Các cơ chế này sẽ cộng hưởng tác động để giúp phòng và hỗ trợ điều trị Covid-19.

(Nguồn: “Nghiên cứu thuốc ức chế virus sars-coV-2 từ thảo dược” Minh Nguyệt, Tạp chí Khoa học & Công nghệ Việt Nam, số 9, năm 2021)

Thí sinh đọc bài đọc và trả lời các câu hỏi dưới đây:

Tiêm trộn lẫn vắc xin covid-19 có an toàn?

(1) Đại dịch Covid-19 vẫn đang hoành hành, gây ra cái chết của hàng triệu người trên khắp thế giới. Tình trạng nguồn cung vắc xin khan hiếm dẫn đến việc thiếu hụt ở nhiều quốc gia; tác dụng phụ hiếm gặp của một số loại vắc xin khiến cho không ít người lo lắng nếu tiếp tục tiêm liều thứ 2 cùng loại; sự xuất hiện các biến chủng mới... Tất cả những lý do này khiến cho ý tưởng tiêm trộn lẫn các loại vắc xin Covid-19 ngày càng được nhiều nước quan tâm.

(2) Ngày càng nhiều quốc gia đang xem xét việc sử dụng các loại vắc xin Covid-19 khác nhau để tiêm liều thứ hai hoặc tiêm nhắc lại trong bối cảnh nguồn cung bị chậm trễ và lo ngại về an toàn đã làm chậm các chiến dịch tiêm chủng của họ.

Theo cập nhật của Hãng tin Reuter, nhiều quốc gia đang cân nhắc hoặc đã quyết định áp dụng giải pháp này, cụ thể như:

- Bahrain: ngày 4/6/2021 nước này thông báo các công dân đủ điều kiện có thể nhận được 1 mũi tiêm nhắc lại Pfizer của BioNTech, hoặc vắc xin của Tập đoàn Dược phẩm quốc gia Trung Quốc (Sinopharm), bất kể họ đã tiêm mũi nào ban đầu.

- Canada: ngày 17/6/2021, Ủy ban Tư vấn quốc gia về tiêm chủng đã khuyến nghị những người nhận liều vắc xin đầu tiên của AstraZeneca sử dụng một loại vắc xin khác cho liều thứ hai của họ.

- Ý: ngày 14/6/2021, Cơ quan y tế của Ý cho biết những người dưới 60 tuổi được tiêm liều đầu tiên của Astra Zeneca có thể nhận được mũi tiêm thứ hai từ loại vắc xin khác.

- Đức: ngày 22/6/2021 phát ngôn viên của Thủ tướng Angela Merkel cho biết bà Merkel đã được tiêm vaccine Moderna sau khi tiêm mũi đầu tiên là AstraZeneca. Đức đã chính thức khuyến cáo người dân chọn sử dụng vắc xin Pfizer hoặc Moderna cho liều thứ hai sau khi tiêm AstraZeneca.

- Hàn Quốc: ngày 18/6/2021 nước này cho biết, khoảng 000 người đã được tiêm liều đầu tiên của AstraZeneca sẽ được tiêm mũi thứ hai của Pfizer do chương trình chia sẻ vắc xin toàn cầu COVAX bị chậm trễ.

- Tây Ban Nha: Bộ trưởng Bộ Y tế Carolina Darias ngày 19/5/2021 khẳng định, nước này sẽ cho phép những người dưới 60 tuổi đã được tiêm mũi AstraZeneca sẽ được tiêm liều thứ hai của vắc xin AstraZeneca hoặc

- Các Tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất đã cung cấp vắc-xin Pfizer như một mũi tiêm tăng cường cho những người được chủng ngừa ban đầu bằng vắc-xin do Sinopharm phát triển.

- Vương quốc Anh: ngày 21/5/2021, nhà sản xuất vắc xin Novavax (NVAX.O) tuyên bố họ sẽ tham gia vào một cuộc thử nghiệm kết hợp vắc xin bắt đầu từ tháng 6 để kiểm tra việc sử dụng một liều vắc xin bổ sung từ một nhà sản xuất khác làm liều tăng cường.

- Hoa Kỳ: ngày 1/6/2021, Viện Y tế quốc gia Hoa Kỳ (NIH) thông báo họ đã bắt đầu thử nghiệm lâm sàng trên những người trưởng thành được tiêm chủng đầy đủ để đánh giá tính an toàn và khả năng sinh miễn dịch của việc tiêm nhắc lại một loại vắc xin khác.

(3) Trên khắp thế giới, các nghiên cứu đang được tiến hành trên động vật và người để điều tra mức độ an toàn, các loại phản ứng miễn dịch được tạo ra và thời gian miễn dịch kéo dài khi một người nhận hai loại vắc xin Covid-19 khác nhau.

(4) Theo công bố hôm 18/5/2021 tại Tây Ban Nha, một kết quả thử nghiệm trên 600 người đã chỉ ra rằng, việc tiêm phòng vắc xin AstraZeneca ở liều thứ nhất và vắc xin Pfizer dựa trên mRNA ở liều thứ 2 sẽ kích hoạt phản ứng miễn dịch mạnh mẽ chống lại vi rút SARS-CoV-2. Tại Đức, một nghiên cứu cho thấy, việc tiêm vắc xin AstraZeneca trước, sau đó là vắc xin Pfizer giúp tạo ra nhiều kháng thể hơn, có khả năng chống lại các biến thể đáng lo ngại so với việc tiêm hai liều cùng của AstraZeneca. Tại Anh, Đại học Oxford đã thực hiện nghiên cứu mang tên Com-CoV2 nhằm xác định mức độ an toàn và hiệu quả của việc tiêm kết hợp vắc xin AstraZeneca và Pfizer/BioNTech. Phát hiện ban đầu cho thấy người được tiêm cả 2 loại xuất hiện phản ứng phụ ở mức độ nhẹ hoặc trung bình so với nhóm tiêm đủ liều của một loại vắc xin. Trong cuộc nghiên cứu mở rộng Com-CoV2, các chuyên gia đang thử nghiệm kết hợp các vắc xin khác ngoài 2 loại trên, chẳng hạn như Moderna và Novavax...

(5) Việc tiêm trộn lẫn các liều vắc xin khác nhau nghe có vẻ bất thường, nhưng đối với các nhà miễn dịch học thì không có gì mới mẻ. Các nhà nghiên cứu về HIV từ lâu đã khám phá ra điều này. Họ nhận thấy rằng việc bảo vệ cơ thể người chống lại vi rút HIV đòi hỏi một phản ứng miễn dịch phức tạp gần như không thể đạt được với một loại vắc xin vì chúng có xu hướng chỉ tạo ra một loại phản ứng miễn dịch hoặc kích thích một nhóm tế bào miễn dịch. Do đó, các nhà khoa học đã nghĩ đến việc trộn nhiều loại vắc xin với nhau. Rodolphe Thiébaut, GS y tế công cộng tại Đại học Bordeaux (Pháp), cho biết: về cơ bản, ý tưởng của việc trộn vắc xin là bạn đang trình bày kháng nguyên (phần có thể nhận biết của mầm bệnh) cho hệ thống miễn dịch theo một cách khác, giúp hệ thống miễn dịch có cái nhìn tổng quan hơn về kháng nguyên và điều chỉnh phản ứng của nó. Mặc dù chúng ta chưa có vắc xin phòng chống HIV/AIDS hiệu quả nhưng loại vắc xin hiệu quả nhất được phát triển cho đến nay là sử dụng kết hợp nhiều loại vắc xin với nhau - vào năm 2012, nó đã được chứng minh là làm giảm sự lây truyền khoảng 30% trong các thử nghiệm trên người ở giai đoạn 3. TS Pierre Meulien (Giám đốc điều hành Sáng kiến thuốc đổi mới - IMI) nhấn mạnh: "Các quốc gia đã đưa ra quyết định phối trộn vắc xin Covid-19 sau khi cân nhắc giữa rủi ro và lợi ích. Đây không phải là điều hoàn toàn mới, chúng ta đã có kinh nghiệm đối với phương pháp này trong nhiều thập kỷ cả ở tiền lâm sàng và lâm sàng".

(6) Mặc dù vẫn còn nhiều vấn đề cần theo dõi, nghiên cứu thêm, song theo các nhà chuyên môn, việc trộn vắc xin có thể giúp tránh miễn dịch chống lại vắc xin. Bởi vì một số loại vắc xin được đưa vào cơ thể bằng cách sử dụng một loại vi rút đã biến đổi, hệ thống miễn dịch có thể tự tấn công vắc xin đó. Trộn các vắc xin có thể làm giảm nguy cơ này. Việc trộn vắc xin còn chứng tỏ là có thể tạo ra phản ứng mạnh hơn, lâu dài hơn so với việc dùng 1 vắc xin đơn lẻ. Vắc xin Ebola do Johnson & Johnson phát triển là một ví dụ về vắc xin hỗn hợp hiệu quả đang được sử dụng ngày nay. Nó được chọn để cung cấp khả năng miễn dịch lâu dài. Lần tiêm đầu tiên sử dụng vectơ adenovirus (tương tự như vắc xin của AstraZeneca) và mũi thứ hai sử dụng phiên bản sửa đổi của vi rút poxvirus có tên là Ankara (MVA). GS Thiébaut (cũng là điều phối viên của EBOVAC2 - một chương trình đánh giá tính an toàn và hiệu quả của vắc xin này) khẳng định: “Vắc xin đã có phản ứng rất tốt. Ít nhất một nửa số tế bào đang tạo ra kháng thể sẽ tồn tại tối thiểu 5 năm”.

(7) Đặc biệt, việc kết hợp vắc xin này còn được hy vọng là sẽ giúp nhân loại chống lại được các biến thể của Covid-19. Theo TS Meulien, động cơ chính để trộn vắc xin là hy vọng tạo ra khả năng miễn dịch rộng hơn. TS Frédéric Martinon (nhà nghiên cứu miễn dịch học tại Viện Y tế và Nghiên cứu y học quốc gia Pháp - INSERM) cho biết, vắc-xin được cải tiến cho các biến thể khác nhau đã xuất hiện ở Anh, Brazil, Nam Phi và gần đây nhất là ở Ấn Độ. Ông hy vọng, thế hệ tiếp theo của vắc xin có thể sẽ chống lại một số biến thể của Covid-19 và việc trộn các loại vắc xin này sẽ tạo ra khả năng miễn dịch tập thể rộng rãi, khiến các biến thể khó lưu hành hoặc khó xuất hiện biến thể mới. Trong khi đó, từ góc độ sức khỏe cộng đồng, GS Thiébaut tin tưởng việc trộn vắc xin có thể giúp thế giới vượt qua đại dịch bằng cách đẩy nhanh việc triển khai tiêm chủng vì các chính phủ có thể phân phối ngay các liều vắc xin mà họ nhận được mà không cần lo lắng về việc dành ra mũi thứ hai của các loại vắc xin cụ thể để tiêm cho người dân vài tuần hoặc vài tháng sau đó. Đối với hàng triệu cá nhân đã tiêm liều ban đầu bằng vắc xin AstraZeneca đang băn khoăn không biết phải làm gì tiếp theo: tiêm liều thứ hai hay chuyển sang một loại vắc xin khác? Cũng sẽ dễ dàng đưa ra quyết định để không làm mất đi cơ hội của chính mình.

(Nguồn: “Tiêm trộn lẫn vắc xin covid-19 có an toàn?Hoàng Yến, Tạp chí Khoa học & Công nghệ Việt Nam, số 7, năm 2021)

Thí sinh đọc bài đọc và trả lời các câu hỏi dưới đây:

Triển vọng sử dụng thuốc kháng CDK4/6 trong điều trị ung thư vú

(1) Với sự phát triển của khoa học và công nghệ, nhiều hướng điều trị mới đã được nghiên cứu áp dụng cho bệnh nhân ung thư vú dương tính với thụ thể nội tiết. Một trong số đó là các nghiên cứu nhằm tác động lên đường dẫn truyền tín hiệu tế bào Cyclin-CDK, tiêu biểu cho cơ chế này là nhóm thuốc ức chế CDK4/6 - nhóm thuốc mới nhất trong điều trị bệnh nhân ung thư vú giai đoạn tiến xa.

(2) Ung thư vú là loại ung thư thường gặp nhất và gây tử vong hàng đầu ở phụ nữ nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển. Ung thư vú là dạng u vú ác tính, đa số các trường hợp bị ung thư vú thường bắt đầu từ các ống dẫn sữa, một phần nhỏ phát triển ở túi sữa hoặc các tiểu thùy. Ung thư vú nếu phát hiện và điều trị muộn có thể sẽ di căn vào xương và các bộ phận khác. Trong đó, thể ung thư vú thụ thể nội tiết dương tính chiếm tới 70-75% số ca. Điều trị nội tiết (tamoxifen, fulvestrant và các thuốc ức chế aromatase) là lựa chọn hàng đầu cho nhóm bệnh nhân này. Tuy nhiên, ở giai đoạn ung thư tiến triển xa, tỷ lệ bệnh nhân không đáp ứng với thuốc điều trị nội tiết có thể lên tới 50%. Do vậy, việc quan trọng là phải phát hiện sớm ung thư vú thông qua quá trình tầm soát tế bào ở những phụ nữ bình thường, điều này giúp cải thiện đáng kể quá trình chẩn đoán và điều trị bệnh. Nhiều nghiên cứu cho thấy, ung thư vú đang ngày càng có những diễn biến theo chiều hướng gia tăng, với ước tính số ca mắc mới trong năm 2020 lên tới hơn 276.000 ca [1, 2]. Đây là một căn bệnh hết sức phức tạp, luôn nhận được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều quốc gia nhằm tìm cách phòng chống và điều trị.

(3) Chu kỳ tế bào là một quá trình được kiểm soát chặt chẽ và được chia ra làm 4 pha: G1, S (tổng hợp DNA), G2, và M (nguyên phân). Giai đoạn chuyển từ pha G1 tới pha S là bước quan trọng trong quá trình nhân lên của tế bào và được điều hòa bởi đường dẫn truyền tín hiệu tế bào Cyclin-CDK [viết tắt từ “cylcin-dependent kinase (CDK) 4/6-INK4-retinoblastoma.

(4) Cyclin D là một protein điều hòa có vai trò hoạt hóa CDK. Khi có tín hiệu ngoại bào (ví dụ như các nhân tố tăng trưởng), Cyclin D sẽ kết hợp với CDK4 và CDK6 để hoạt hóa các enzyme này. CDK4/6 được hoạt hóa sẽ kích hoạt Rb và E2F. E2F thúc đẩy tế bào chuyển từ pha G1 sang pha S. Sự hoạt hoá E2F quá mức có thể thúc đẩy quá trình phân chia tế bào nhanh chóng và không chọn lọc, là một yếu tố nguy cơ phát triển khối u. Nhóm thuốc kháng CDK4/6 có vai trò ức chế phức hợp CyclinD- CDK4/6, qua đó ức chế hoạt hóa E2F, dẫn tới ức chế chu trình nhân lên của tế bào tại pha G1 và có tác dụng ngăn cản sự phát triển của khối u. Rối loạn trục Cyclin/CDK/E2F xảy ra ở 50-70% các trường hợp ung thư vú. Sự bộc lộ quá mức Cyclin D1 cũng được nhận thấy ở 50-60% bệnh nhân ung thư vú và 50% bệnh nhân thiếu hụt gene ức chế CDK4/6.

(5) Nghiên cứu cho thấy, các thuốc kháng CDK4/6 thế hệ đầu tiên (như flavopiridol) không cho kết quả như mong đợi do khả năng chọn lọc kém, dẫn tới nguy cơ về tác dụng phụ. Flavopriridol trong các thử nghiệm cũng cho thấy hiệu quả khiêm tốn dưới dạng đơn chất và không mang lại hiệu quả khi phối hợp hóa trị.

(6) Thế hệ thứ 2 của nhóm thuốc này, dù tính chọn lọc cao hơn nhưng lại có nhiều nguy cơ về biến cố bất lợi nghiêm trọng. Dinaciclib được xác nhận có liên quan lần lượt từ 60 và 70% tác dụng phụ nghiêm trọng trong các thử nghiệm lâm sàng pha I và pha II.

(7) Phải đến thế hệ thứ 3, thuốc kháng CDK4/6 mới được chấp thuận trong điều trị ung thư vú tiến triển trên bệnh nhân có thụ thể nội tiết dương tính và HER2 âm tính. Một ưu điểm của thế hệ này là các thuốc đã được sử dụng ở dạng uống. Ba hoạt chất được chấp thuận gồm: palbociclib (PD0332991, Pfizer, Inc.), ribociclib (LEE011, Novartis International AG) và abemaciclib (LY2835219, Eli Lilly and Company).

(8) Các nghiên cứu cho thấy hiệu quả và an toàn của palbociclib bao gồm các thử nghiệm PALOMA-1, PALOMA-2 và PALOMA-3.

(9) Thử  nghiệm  PALOMA-1  là  thử nghiệm pha II gồm 165 bệnh nhân, so sánh palbociclib kết hợp letrozole so với letrozole đơn độc ở bệnh nhân bị ung thư vú giai đoạn tiến xa (dương tính thụ thể nội tiết và âm tính với protein HER2), hậu mãn kinh chưa được điều trị trước đó. Thời gian sống của bệnh nhân không nặng hơn mức trung bình là 20,2 tháng (13,8-27,5) đối với nhóm palbociclib kết hợp letrozole và 10,2 tháng (5,7-12,6) đối với nhóm letrozole. Kết quả mang tính bước ngoặt này đã dẫn đến việc Cục Quản lý thực phẩm và dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) nhanh chóng phê duyệt palbociclib kết hợp letrozole trong bệnh ung thư vú giai đoạn tiến xa ở bệnh nhân hậu mãn kinh.

(10) Sau khi PALOMA-1 thành công với phác đồ palbociclib và letrozole, thử nghiệm pha III gồm 666 bệnh nhân là PALOMA-2 được phát triển để xác nhận lại lợi ích của việc kết hợp thuốc này so với letrozole đơn độc trên bệnh nhân ung thư  vú giai đoạn tiến xa chưa được điều trị trước đó. Trong thử nghiệm này, palbociclib + letrozole đạt được tiêu chí chính là cải thiện thời gian sống, bệnh không nặng hơn so với letrozole + giả dược (trung bình lần lượt là 24,8 so với 14,5 tháng, p<0,001).

(11) Một năm kể từ chỉ định đầu tiên được cấp phép, vào tháng 2/2016, FDA tiếp tục phê duyệt chỉ định mới của palbociclib: kết hợp với fulvestrant để điều trị ung thư vú ở giai đoạn tiến xa tiến triển sau khi điều trị bằng liệu pháp hormone. Quyết định này dựa trên kết quả của thử nghiệm PALOMA-3 ở 521 bệnh nhân ung thư vú tiến xa, bất kể tình trạng mãn kinh, tiến triển sau liệu pháp hormone, được điều trị fulvestrant đơn độc hoặc kết hợp palbociclib. Kết quả là, thời gian sống của bệnh không nặng hơn của nhóm fulvestrant kết hợp palbociclib là 9,2 tháng, vượt trội so với nhóm chỉ có fulvestrant là 3,8 tháng (p<0,001). Thời gian sống thêm toàn bộ cũng được cải thiện (34,9 so với 28,0 tháng), tuy nhiên sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê.

(12) Nhìn chung, nhóm thuốc ức chế CDK4/6 dễ dung nạp. Các tác dụng không mong muốn phổ biến trong nhóm bao gồm buồn nôn, tiêu chảy, mệt mỏi, giảm bạch cầu trung tính, giảm bạch cầu, thiếu máu và giảm tiểu cầu. Tác dụng phụ thường gặp của palbociclib và ribociclib là giảm bạch cầu trung tính, trong khi tiêu chảy là tác dụng phụ thường gặp nhất của abemaciclib. Không có sự vượt trội về tính an toàn giữa các thuốc, vì vậy cần cân nhắc tới độc tính của các thuốc trước khi quyết định dùng trên từng bệnh nhân cụ thể. Nếu bệnh nhân không dung nạp được với một thuốc, việc thử sử dụng một thuốc khác có thể được cân nhắc.

(13) Có thể khẳng định, nhóm thuốc ức chế CDK4/6 cho thấy hiệu quả tốt trên lâm sàng, dễ dung nạp, hiệu quả không kém hơn các thuốc ức chế nội tiết như tamoxifen hay fulvestrant. Trong điều trị ung thư vú tiến xa (dương tính thụ thể nội tiết và âm tính protein HER2), nhóm thuốc này có tiềm năng lớn, sẽ được đưa vào nhóm điều trị đầu tay, mở ra triển vọng to lớn trong việc điều trị tận gốc căn bệnh ung thư vú.

(Nguồn: “Triển vọng sử dụng thuốc kháng CDK4/6 trong điều trị ung thư vú” Phạm Đức Hùng1, Trần Phương Thảo, Trần Linh Giang, Nguyễn Lê Hiệp, Nguyễn Thế Thịnh, Nguyễn Thanh Bình, Tạp chí Khoa học & Công nghệ Việt Nam, số 10, năm 2020)

Thí sinh đọc bài đọc và trả lời các câu hỏi dưới đây:

Nhựa phân hủy sinh học và tiềm năng phát triển ở Việt Nam

(1) Thực trạng ô nhiễm rác thải nhựa đang ở mức báo động và trở thành mối quan tâm của nhiều quốc gia. Một trong những giải pháp nhằm giảm thiểu tình trạng này là thay thế các sản phẩm nhựa truyền thống bằng nhựa phân hủy sinh học (NPHSH) thân thiện môi trường. Bài viết đề cập một số nét cơ bản về thực trạng, tiềm năng và giải pháp phát triển loại vật liệu này trong thời gian tới ở nước ta.

(2) NPHSH là loại nhựa có thể bị phân hủy bởi các vi sinh vật, thường là vi khuẩn, tạo thành nước, carbon dioxide và sinh khối trong một khoảng thời gian xác định. Các sản phẩm sau phân hủy có thể tiếp tục tham gia vào chu trình carbon và không để lại bất kỳ hợp chất nào có thể gây hại cho môi trường. Nhìn chung, quá trình phân hủy sinh học polyme có thể được chia thành 4 giai đoạn: suy thoái sinh học, phân rã polyme, phân hủy sinh học và khoáng hóa.

(3) Một loại nhựa được coi là nhựa sinh học (NSH) nếu nó được sản xuất một phần hoặc toàn bộ bởi các polyme có nguồn gốc sinh học. Không phải tất cả các loại NSH đều có khả năng phân hủy sinh học. Chẳng hạn như nhựa bio-PE, bio-PP, bio-PET có nguồn gốc sinh học nhưng chúng có các tính chất tương đồng với nhựa cùng loại được sản xuất từ nguồn dầu mỏ, nghĩa là không có khả năng phân hủy sinh học.

 (4)   NSH và NPHSH được phân loại thành các nhóm như sau: 1) Nhựa có nguồn gốc sinh học không phân hủy (Bio-based plastics): nhóm này được sản xuất từ nguyên liệu có nguồn gốc tái tạo (tinh bột ngô, khoai, sắn…), gồm các loại nhựa như PE (polyethylen), PET (polyetylen terephthalate), PA (polyamide) và gần đây là PP (polypropylen), PEF (polyethylene furanoate). 2) NSH phân hủy hoàn toàn (Bio-based và Biodegradable plastics): nhóm này được sản xuất từ nguyên liệu sinh học hoặc bằng con đường sinh học, gồm PLA (polylactic acid), PHA (polyhydroxyalkanoates), TPS (thermoplastic starch), hỗn hợp tinh bột và các loại khác.

(5) NPHSH có nguồn gốc dầu mỏ (Biodegradable plastics):  nhóm này chủ yếu gồm PBAT (Polybutylene adipate terephthalate), PCL (polycaprolactone), PBS (polybutylene succinate). NPHSH bao gồm PLA, PHA, hỗn hợp tinh bột và các loại khác hiện chiếm hơn 55% (1,17 triệu tấn) tổng lượng NSH trên thế giới. Trong đó PLA chiếm 24%, hỗn hợp tinh bột (44%), các polyester phân hủy sinh học khác 23% và PHA (6%). Sản lượng NPHSH dự kiến sẽ tăng lên 1,33 triệu tấn vào năm 2024, trong đó dự báo tốc độ tăng trưởng của PHA là nhanh nhất, ước tính tăng gấp 3 lần trong 5 năm tới. Trên thế giới, NPHSH được quan tâm phát triển do có nhiều ưu điểm như: thân thiện với môi trường; được sản xuất từ các nguồn nguyên liệu tái tạo; an toàn cho người sử dụng; có khả năng tái chế.

 (6) Thời gian gần đây, nhựa Việt Nam là một trong những ngành có tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ (đạt 17,5% giai đoạn 2011-2020, chỉ sau viễn thông và dệt may). Sản lượng nhựa ở nước  ta năm 2019 đạt 8,9 triệu tấn, lượng nhựa tiêu thụ bình quân năm 2019 là 41 kg/người, cao gấp hơn 10 lần so với lượng tiêu thụ 3,8 kg/người vào năm 1990.

(7) Cùng với xu hướng phát triển của ngành nhựa thế giới, việc nghiên cứu sử dụng NSH, NPHSH hiện đang là mối quan tâm của các doanh nghiệp nhựa trong nước. Quan điểm phát triển ngành nhựa Việt Nam là phải đạt hiệu quả cao và bền vững, gắn liền với bảo vệ môi trường. Một số công ty đã nghiên cứu và sản xuất các sản phẩm NPHSH như An Phát bioplastics đã phát triển thành công NPHSH có thể phân hủy hoàn toàn (100% compostable) mang nhãn hiệu AnEco, gồm các sản phẩm như: túi nilon, găng tay, dao, nĩa, ống hút, màng nông nghiệp… được sử dụng trong nước và xuất khẩu. Các công ty: Biostarch, Cổ phần sản xuất nhựa Phú Mỹ (PMP)... đã sử dụng kết hợp tinh bột và nhựa nguyên sinh PE, PP với hàm lượng tinh bột lên đến 40% để sản xuất sản phẩm có khả năng phân hủy sinh học. Một số hệ thống siêu thị, chuỗi cửa hàng tiện lợi (Co.opmart, Vinmart, Big C, Mega Market, Lotte…) đã giảm dần việc sử dụng túi nhựa một lần, thay thế bằng các loại bao bì thân thiện môi trường. Hiện nay tỷ trọng NPHSH so với tổng lượng nhựa sử dụng ở Việt Nam vẫn còn thấp. Trong tương lai, nếu tỷ trọng này được nâng cao gần với tỷ trọng chung của thế giới thì đến năm 2025 tổng nhu cầu NPHSH của Việt Nam là khoảng 80 nghìn tấn/năm, như vậy tiềm năng phát triển đối với NPHSH là rất đáng kể.

(8) Ngoài ra, trên phương diện vĩ mô, với quan điểm nhất quán là phát triển kinh tế phải đi đôi với bảo vệ môi trường, Chính phủ và các bộ, ngành đã và đang tiếp tục hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách về bảo vệ môi trường. Mới đây, Thủ tướng đã phê duyệt kế hoạch hành động quốc gia về quản lý rác thải nhựa đại dương; ban hành chỉ thị tăng cường quản lý, tái sử dụng, tái chế, xử lý và giảm thiểu chất thải nhựa. Việt Nam phấn đấu đến năm 2021 các cửa hàng, chợ, siêu thị ở đô thị không sử dụng đồ nhựa dùng một lần và đến năm 2025 cả nước không sử dụng đồ nhựa dùng một lần. Đây cũng là một động lực để thúc đẩy sự phát triển của NPHSH ở Việt Nam trong tương lai.

(9) Có thể khẳng định, khuyến khích sử dụng và phát triển NPHSH ở nước ta là phù hợp với xu thế chung của thế giới. Để hiện thực hóa mục tiêu này ở nước ta, cần quan tâm giải quyết một số vấn đề sau:

Một là, cần có lộ trình cụ thể và các giải pháp đồng bộ để hạn chế dần các sản phẩm nhựa dùng một lần và tăng cường sử dụng sản phẩm thân thiện với môi trường. Hiện nay chưa có chính sách thuế phù hợp khiến giá thành NPHSH cao nên đã không tạo động lực khuyến khích người tiêu dùng sử dụng. Vì vậy, cần ban hành một số chính sách ưu đãi về thuế, phí cũng như hỗ trợ, khuyến khích đối với các doanh nghiệp sản xuất NPHSH để giảm giá thành sản phẩm, đồng thời mở rộng đối tượng chịu thuế và tăng mức thuế đối với túi nilon, bao bì và sản phẩm nhựa gốc (virgin plastics); kiểm tra ngăn chặn các hành vi trốn thuế bảo vệ môi trường, đặc biệt là đối với túi nilon.

Hai là, cùng với việc thúc đẩy sản xuất, trong xu hướng sản xuất gắn liền với sử dụng, tái sử dụng sản phẩm của nền kinh tế tuần hoàn hiện nay, cần tăng cường tuyên truyền, nâng cao ý thức cộng đồng về nguy cơ ô nhiễm nhựa để tiến tới từ bỏ thói quen sử dụng túi nilon, các sản phẩm nhựa khó phân hủy và chuyển sang sử dụng các sản phẩm NPHSH. Triển khai giải pháp 3R (Reduce - Reuse - Recycle) và có lộ trình mở rộng giải pháp 3R lên 5R (Refuse - Reduce - Reuse - Recycle - Rot) 3. Từng bước triển khai hiệu quả công tác phân loại rác tại nguồn kèm theo xây dựng hệ thống xử lý rác thải đồng bộ để tăng cường thu hồi và tái chế sản phẩm nhựa.

Ba là, hiện nước ta chưa ban hành các tiêu chuẩn cụ thể đối với các sản phẩm NPHSH cũng như chưa có phòng thí nghiệm đạt tiêu chuẩn đánh giá NPHSH, dẫn đến bất cập trong việc kiểm định, đánh giá các sản phẩm dán nhãn NPHSH. Hiện nay, một số đơn vị nghiên cứu về vật liệu polymer phân hủy sinh học ở các trường đại học, viện nghiên cứu đã có một số nghiên cứu khá bài bản và thu được những kết quả đáng khích lệ về NPHSH. Nếu có các chính sách ưu tiên hỗ trợ kinh phí cho các đề tài nghiên cứu chuyên sâu về NPHSH, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nghiên cứu và chuyển giao công nghệ sản xuất nhựa thân thiện với môi trường nhằm thay thế nhựa truyền thống sẽ giúp triển khai hiệu quả việc ứng dụng NPHSH trong thực tiễn.

Bốn là, các doanh nghiệp ngành nhựa cần phải thay đổi công nghệ sản xuất để hướng đến các sản phẩm thân thiện với môi trường hơn. Từng bước dịch chuyển từ việc sử dụng nguồn nguyên liệu dầu mỏ sang sử dụng nguồn nguyên liệu tái tạo (các nhà máy sản xuất PE, PP trong các khu liên hợp lọc hóa dầu có thể chuyển đổi để sản xuất thêm các loại nhựa bio-PE, bio-PP, chuyển đổi một phần các nhà máy sản xuất bio-ethanol sang sản xuất PLA…) sẽ giúp ngành công nghiệp nhựa của Việt Nam thích ứng với xu hướng phát triển mới ngành nhựa của thế giới.

(Nguồn: “Nhựa phân hủy sinh học và tiềm năng Phát triển ở Việt Nam” Đường Khánh Linh, Tạp chí Khoa học & Công nghệ Việt Nam, số 10, năm 2020)

Để sản xuất beta-glucan, chất bổ sung sinh học nhờ vào khả năng kích thích hệ thống kháng thể trên quy mô công nghiệp và không gây ô nhiễm môi trường, Nguyễn Văn Năm cùng với các cộng sự ở Công ty CP Công nghệ Hóa sinh Việt Nam tìm ra phương pháp sinh học đảm bảo chất lượng beta-glucan được tách chiết từ thành tế bào nấm men bia.

1. Tận dụng phế thải ngành sản xuất bia

Từ lâu, beta-glucan đã được sử dụng nhiều trong y học cũng như chăn nuôi gia súc, gia cầm, nuôi trồng thủy sản nhằm tăng cường hệ miễn dịch đề phòng chống, ngăn ngừa và hỗ trợ điều trị bệnh cho người, vật nuôi. Bởi vậy, các nhà nghiên cứu luôn tìm kiếm các phương pháp để tách chiết được beta-glucan tinh sạch, có chất lượng cao. Theo ông Nguyễn Văn Năm, từ lâu các nhóm nghiên cứu trên thế giới và cả Việt Nam đã sử dụng nhiều phương pháp khác nhau để tách chiết được beta-glucan từ thành tế bào nấm men Saccharomyces cerevisiae. “Nấm men bia có cấu trúc sinh học với liên kết vững chãi và có thể sản xuất trên quy mô công nghiệp. Đây là 2 đặc tính rất quan trọng với ngành công nghiệp sản xuất beta-glucan” – ông Năm nói.

2. Thực tế, nấm men bia được tách chiết từ phế thải của nhà máy sản xuất bia. Trung bình để sản xuất 1000 lít bia xả ra 10 kg men thải với độ ẩm trung bình khoảng 85%. Lâu nay, lượng nấm men này chủ yếu được dùng để chế biến thức ăn động vật hoặc thải ra ngoài môi trường. Trong tế bào nấm men, thành tế bào chiếm khoảng 10-20% trọng lượng khô, trong đó beta-glucan chiếm 50-60% lượng chất khô của thành tế bào nấm men. Vì thế, việc tách chiết beta-glucan từ nấm men bia rất phù hợp với quy mô sản xuất công nghiệp so với tách chiết từ các loại nấm khác.

Ông Năm giải thích: ‘Nếu như tách từ nấm rơm, nấm linh chi… giá thành không chỉ đắt đỏ mà còn khó sản xuất trên quy mô công nghiệp. Trong khi đó, nấm men bia cho giá thành rẻ và đồng đều về chất lượng do là kết quả của quá trình sản xuất bia công nghiệp. Điều này sẽ tăng khả năng cạnh tranh với sản phẩm nhập khẩu”.

3. Không chỉ vậy, nấm men bia còn có ưu thế về mặt cấu trúc với liên kết hình cầu, mà trong hình học là cấu trúc vững chắc nhất. Trong khi đó, beta-glucan sau khi tách chiết phải giữ được đầy đủ hai liên kết 1-3, 1-6 mới có giá trị cao về hoạt tính sinh học.

Do thành tế bào nấm men có cấu trúc rất bền vững nên việc tách chiết beta-glucan từ thành tế bào rất khó khăn bởi khi đó sẽ rất khó thu được hoạt chất có độ tinh sạch cao. Thông thường, cách dễ nhất để tách chiết beta-glucan là sử dụng kiềm nồng độ cao hoặc nấu kiềm kết hợp xử lý bằng axit, hoặc sử dụng tác nhân oxy hóa, tác nhân khử và các dung môi hữu cơ. Tuy nhiên, nhược điểm của phương pháp này là ảnh hưởng tới cấu trúc liên kết, và dẫn đến việc ảnh hưởng tới hoạt tính sinh học của beta-glucan. Đó là chưa kể tới việc, chất thải ra môi trường sau quy trình tách chiết sẽ gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.

4. Một số nhóm nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam đã chuyển đổi từng phần hoặc hoàn toàn việc sản xuất bằng công nghệ sinh học sử dụng enzym trong điều kiện mềm và ít gây ô nhiễm môi trường hơn.

Do đó vào năm 2018, ông Nguyễn Văn Năm và nhóm nghiên cứu tại công ty đã đề xuất thực hiện đề tài “Nâng cấp và hoàn thiện công nghệ sản xuất beta-glucan và probiotic - đa enzyme sử dụng trong nuôi tôm công nghiệp thay thế kháng sinh và hoá chất diệt khuẩn độc hại” thuộc dự án “Đẩy mạnh đổi mới sáng tạo thông qua nghiên cứu, khoa học và công nghệ" (Dự án FIRST) do Bộ KH&CN quản lý và Ngân hàng Thế giới tài trợ. Ông Năm nói: “Trước khi tham gia vào dự án FIRST thì chúng tôi đã có một số kết quả nghiên cứu làm tiền đề nhưng mới ở quy mô phòng thí nghiệm. Việc tham gia dự án FIRST được chúng tôi kỳ vọng sẽ là cơ hội để chúng tôi có được một giải pháp công nghệ ổn định và có thể mở rộng sản xuất ở quy mô công nghiệp”. Khi đó, ông đặt mục tiêu là tìm ra quy trình tách chiết beta-glucan không sử dụng nồng độ kiềm hoặc axit cao, không sử dụng nhiệt độ cao, ít gây ô nhiễm môi trường.

Để đạt được mục tiêu này, nhóm nghiên cứu đã sử dụng hydro peroxit và chế phẩm enzym để phá hủy/thủy phân các thành phần cấu trúc đồng hành với beta-glucan trong thành tế bào nấm men bia. Cơ sở của giải pháp này là protein trong thành tế bào có thể bị thủy phân bởi proteinaza và anpha-glucan bị thủy phân bởi amylaza. Khi đó, các protein sẽ được loại bỏ khỏi beta -glucan trong điều kiện nồng độ kiềm và nhiệt độ xử lý thấp hơn.

5. Để tách chiết beta -glucan từ thành tế bào nấm men bia, nhóm nghiên cứu thực hiên việc tự phân tế bào nấm men bia; dùng chế phẩm oryzaezyme thủy phần để thu về chủng nấm mốc tương Aspergillus oryzae; xử lý sản phẩm thu được bằng hydro peroxit; xử lý bằng dung dịch NaOH 0,2-0,3M ở nhiệt độ phòng; xử lý bằng dung dịch NaOH 0,2-0,3M ở nhiệt độ 80 độ C, trung hòa và chiết β-glucan bằng dung dịch axit axetic 0,5N hoặc etanol 96% rồi rửa bằng nước RO. Kết quả nghiệm thu từ dự án FIRST, ông Nguyễn Văn Năm và nhóm nghiên cứu sản xuất được 5,1 tấn beta -glucan với độ tinh khiết từ 40% - 60%.

6. Cạnh tranh trong ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi

Ông Nguyễn Văn Năm tự hào nói rằng, kết quả thu được từ dự án trên,công ty đã tiếp tục hoàn thiện quy trình cũng như xây dựng thêm một nhà máy sản beta–glucan ở Thạch Thất để đáp ứng nhu cầu sản xuất trên quy mô công nghiệp. Khách hàng chủ yếu là các công ty sản xuất thức ăn chăn nuôi gia súc, gia cầm và thủy sản và sản xuất thuốc thú y. Việc có được nhà máy sản xuất giúp Công ty CP Công nghệ Hóa sinh Việt Nam có thể chủ động sản xuất beta-glucan theo yêu cầu của phía đơn vị nhập hàng. Tùy vào nhu cầu sử dụng mà các doanh nghiệp sẽ yêu cầu độ tinh khiết cũng như sản phẩm ở dạng dung dịch hay bột. “Chúng tôi tự tin sản phẩm đủ sức cạnh tranh với hàng nhập khẩu về chất lượng mà giá thành lại rẻ hơn 5-10%. Chúng tôi cũng đã hoàn thành quy trình tách chiết beta-glucan dạng tan cũng như có độ tinh khiết lên tới 80% – ông Năm nói.

7. Là thành viên của Hội nghề cá Việt Nam, nhiều năm qua, ông vẫn luôn đau đáu việc ngành nuôi trồng thủy sản đã và đang sử dụng quá nhiều chất độc hại thải ra môi trường. Bởi vậy, từ beta–glucan, ông Năm và các cộng sự tại Công ty CP Công nghệ Hóa sinh Việt Nam xây dựng nhiều sản phẩm để “nâng bước cho con tôm” từ việc nâng cao hệ miễn dịch đến bổ sung các yếu tố lợi khuẩn, tăng sức đề kháng qua thức ăn và sử dụng các chế phẩm sinh học có probiotic để xử lý môi trường.

Tuy nhiên trong 2 năm trở lại đây, nguồn nguyên liệu đầu vào là nấm nem bia sụt giảm nghiêm trọng do ảnh hưởng cũng dịch bệnh cũng như lượng tiêu thụ bia trên thị trường Việt Nam cũng thấp hơn trước đây. Nhiều nhà máy đóng cửa, số nhà máy còn lại, công suất chỉ còn khoảng 3/4. Để đối phó với tình huống này, ông Nguyễn Văn Năm cho biết, nhóm tiếp tục hoàn thiện quy trình tách chiết, tối ưu các công thức để tận dụng tối đa nguồn nguyên liệu đầu là cách duy nhất. Trong đó, beta–glucan sẽ được xuất đi với chất lượng và độ tinh khiết cao hơn và tận dụng các hoạt chất khác như protease, probiotic… để sản xuất các sản phẩm phục vụ chăn nuôi. 

Quy trình tách chiết glucan của ông Nguyễn Văn Năm và các công sự đã được Cục Sở hữu trí tuệ cấp bằng độc quyền giải pháp hữu ích số 2-0002868 được công bố ngày 25/8/2021. 

Nguồn: Bài viết hợp tác giữa Cục Sở hữu trí tuệ và Báo Khoa học và Phát triển

Biển Chết có nguy cơ biến mất

1. Biển Chết ngày càng thu nhỏ, trở thành ví dụ điển hình về tác động nặng nề của biến đổi khí hậu đối với môi trường.

Một đoạn của Biển Chết khô cạn tạo thành cánh đồng muối. Ảnh: CFP

2. Biển Chết, một trong những hồ nước lạnh nhất thế giới, giáp biên giới Jordan và Israel ở tây nam châu Á. Dù có chữ "biển" trong tên gọi, đây thực chất là một hồ nước nổi tiếng với độ mặn cao bất thường khiến hầu hết động thực vật không thể sinh tồn. Hồ nước nơi phần lớn nước từ sông Jordan đổ vào ở hướng bắc, đang dần khô cạn.

3. Từ thập niên 1960, Biển Chết đã mất 1/3 diện tích bề mặt. Mực nước rút xuống khoảng một mét mỗi năm, theo báo cáo của Bộ Bảo vệ Môi trường Israel năm 2014. Báo cáo dựa trên 10 năm nghiên cứu và thu thập dữ liệu kết luận sự sụt giảm trên bắt nguồn từ tốc độ bay hơi nhanh hơn do hiện tượng ấm lên toàn cầu và biến đổi khí hậu cũng như hoạt động của con người, như chuyển dòng nước từ sông Jordan và khai thác mỏ.

4. Nhưng không chỉ Biển Chết có nguy cơ biến mất. Những hồ nước khác trên khắp thế giới bao gồm hồ Lake Poopo ở vùng trung tây Bolivia và hồ Chad ở khu vực Sahelian của châu Phi cũng đang hứng chịu tác động của nhiệt độ gia tăng. Catherine O' Reilly, nhà sinh thái học ở Đại học Illinois, đồng trưởng nhóm khảo sát gồm 64 nhà khoa học, cho biết biến đổi khí hậu đang khiến nhiều hồ nước ấm lên nhanh hơn so với đại dương và khí quyển. Nhiệt độ cao đẩy nhanh tốc độ bay hơi khiến quá trình suy giảm mực nước càng ngày càng trầm trọng.

5. Giới chuyên gia đặt nhiều kỳ vọng khi các nhà lãnh đạo thế giới tham gia Hội nghị thượng đỉnh khí hậu (COP26) tại Glasgow từ 31/10 đến 12/11. Tổng thư ký Liên Hợp Quốc Antonio Guterres hôm 9/8 nhấn mạnh mọi quốc gia đều cần tham gia liên minh không phát thải CO2, củng cố cam kết giảm tốc độ và đảo ngược hiện tượng ấm lên toàn cầu. Đồng thời, COP26 hướng tới thúc đẩy hành động nhằm đạt mục tiêu đề ra trong Hiệp định Paris và Công ước khung Liên Hợp Quốc về Biến đổi Khí hậu. Tại hội nghị thượng đỉnh, các nước sẽ chia sẻ kế hoạch quốc gia và đặt mục tiêu giảm khí thải riêng trong nỗ lực chung nhằm đối phó với hiện tượng ấm lên toàn cầu.

Làm thế nào để ký ức tiêu cực không gây hại?

Các nhà khoa học đã chứng minh ký ức xúc cảm luôn mạnh mẽ hơn ký ức phi cảm xúc, nỗi buồn được nhớ sâu sắc hơn niềm vui. Vậy làm thế nào để xua đi những nỗi buồn, ký ức tiêu cực trong quá khứ? Giải pháp là cần tiếp nhận những ký ức tiêu cực một cách tích cực và chăm chỉ tập thiền đúng cách.

1. Ký ức xúc cảm luôn mạnh mẽ hơn ký ức phi cảm xúc

Những gì trong quá khứ đều đọng lại trong ký ức mỗi người chúng ta. Nhưng mức độ đọng lại có khác nhau tuỳ theo nội dung, ý nghĩa, tác động của quá khứ đối với mỗi người. Buồn vui đều tồn tại trong ký ức. Thông thường, người ta hay nhớ chuyện buồn lâu hơn là những niềm vui, mặc dù cả hai đều là những ký ức về cảm xúc. Buồn trong quá khứ là ký ức tiêu cực, còn vui của dĩ vãng là ký ức tích cực. Buồn có khi nhớ suốt đời, tưởng chừng như nó mới xảy ra đâu đây, nó có thể làm cho đôi bàn tay ta ướt đẫm mồ hôi, tim đập nhanh hoặc thở dài...

Thông thường, người ta hay nhớ chuyện buồn lâu hơn là những niềm vui, mặc dù cả hai đều là những ký ức về cảm xúc.

2. Để lý giải điều này, các nhà khoa học đã đi tìm câu trả lời. Năm 2006, hai nhà nghiên cứu Elizabeth (Đại học Boston, Hoa Kỳ) và Daniel Schacter (Đại học Harvard, Hoa Kỳ) đã công bố nghiên cứu nổi tiếng của họ với đề tài “Sự hồi tưởng ký ức xúc cảm”. Thử nghiệm của họ tập trung vào ký ức về giải bóng chày American League Championship 2004. Lúc đó, đội Boston Red Sox đánh bại New York Yankees. Đây là trận đấu tạo nên cảm xúc cao độ với người xem.

Nghiên cứu được thực hiện trên 3 nhóm: nhóm cổ động viên (fan) của đội thắng, nhóm fan của đội thua và nhóm trung lập (không fan của đội nào). Kết quả cho thấy: fan của cả 2 đội thắng và bại đều nhớ lại sự kiện trận đấu với những cảm xúc cao độ hơn là nhóm trung lập. Ký ức cảm xúc của fan 2 đội được hồi tưởng lại sống động, đầy đủ hơn nhóm không fan của đội nào. Nhưng đặc biệt, nhóm fan của đội thua trận nhớ được nhiều chi tiết sâu sắc, cụ thể hơn nhóm fan của đội thắng. Đó là những chi tiết sâu sắc về nỗi buồn của người bại trận. Điều đó chứng tỏ, những ký ức đau buồn luôn mạnh mẽ và ít bị tiêu tan hơn những ký ức hân hoan.

3. Thêm một thí nghiệm nữa được thực hiện năm 2007, dựa trên sự kiện lịch sử cũng minh chứng cho điều đó: sau sự kiện sụp đổ của Bức tường Berlin, người ta nghiên cứu 2 nhóm người dựa trên cảm nhận của họ về sự kiện này, một nhóm yêu thích sự kiện này và một nhóm bất mãn về điều đó. Kết quả cho thấy nhóm bất mãn hồi tưởng lại cao độ sự kiện lịch sử với độ chính xác và chi tiết hơn nhiều so với nhóm yêu thích.

Khi nghiên cứu sâu hơn về ký ức, các nhà khoa học nhận thấy, ký ức xúc cảm được ghi nhớ chính xác hơn nhiều so với ký ức phi cảm xúc. Điều này cho thấy, việc ghi nhớ những trải nghiệm cảm xúc là rất quan trọng và tác động mãnh liệt với bản thân chúng ta... Tại sao những trải nghiệm cảm xúc lại được bộ não ghi nhớ tốt hơn những trải nghiệm phi cảm xúc? Tìm hiểu cấu trúc não lưu trữ ký ức sẽ giải thích được điều đó. Cấu trúc chính trong bộ não đảm nhiệm lưu trữ ký ức là “đồi hải mã”. Đây là một cấu trúc nhỏ nằm ở thuỳ thái dương, đóng vai trò quan trọng đối với trí nhớ lâu dài của chúng ta. Tuy vậy, quá trình hồi tưởng ký ức xúc cảm không chỉ đòi hỏi đồi hải mã, mà còn yêu cầu cả sự tham gia của amygdala và nhiều khu vực của vỏ não trước trán nữa.

4. Amygdala là một cấu trúc nhỏ hình quả hạnh nhân bên trong bộ não, chủ yếu tham gia vào sự kiểm soát cảm xúc, đặc biệt là cảm xúc giận dữ và sợ hãi. Khi một trải nghiệm cảm xúc được hồi tưởng, chính amygdala đã tạo ra khía cạnh xúc cảm của sự kiện. Một ký ức càng nhiều cảm xúc, amygdala càng hoạt động mạnh hơn.  Nhiều khu vực khác nhau của vỏ não trước trán góp phần kiểm soát hành vi cảm xúc, và tham gia truyền tải những ký ức cảm xúc của chúng ta. Các nhà khoa học tin rằng, sự tham gia của amygdala và vỏ não trước trán trong quá trình hồi tưởng ký ức xúc cảm đã giúp khôi phục lại ký ức. Amygdala và vỏ não trước trán được kích hoạt bởi một cảm xúc nào đó khiến những nơ-ron đã gửi xung động từ kích hoạt kia đến đồi hải mã. Một lượng lớn các xung động được gửi đến đồi hải mã được cho là đã tham gia hỗ trợ và củng cố ký ức. Tuy nhiên, con đường cụ thể của quá trình hồi tưởng ký ức xúc cảm hiện vẫn chưa hoàn toàn được hiểu rõ. Đó là lý do giải thích vì sao bạn nhớ về việc nhận được điểm 10 hoặc điểm 1 khi làm bài kiểm tra một cách rất sống động, nhưng dễ dàng quên mất mình đã tắt quạt hay chưa khi đã rời phòng...

5. Vậy những ký ức tiêu cực đã tác động lớn đến chúng ta như thế nào? Câu trả lời cũng khá rõ ràng. Những sự kiện tiêu cực thường khiến cơ thể của chúng ta tiết ra các hormone căng thẳng epinephrine và cortisol. Các nghiên cứu cho thấy tác động của các hormones căng thẳng trên amygdala là tối quan trọng trong việc kiểm soát và tăng cường ký ức. Epinephrine và cortisol được cho là tác động lên màng đáy trên amygdala (BLA) - vốn đảm nhiệm việc lưu trữ những phản xạ có điều kiện liên quan đến nỗi sợ hãi. Bởi vì những hormone đó được tiết ra dưới các tình huống tiêu cực. Nó dẫn đến việc người ta ghi nhớ những sự kiện tiêu cực tốt hơn. Amygdala được kích hoạt mạnh và gửi đi những tín hiệu mạnh, có thiên hướng xúc cảm đến đồi hải mã. Kết quả là chúng ta có những hồi tưởng rõ rệt về những biến cố tiêu cực, cả trên khía cạnh ký ức lẫn cảm xúc.

6. Làm thế nào để ký ức tiêu cực không gây hại?

Trong cuộc sống, mỗi người trong chúng ta không tránh khỏi những sự kiện đau buồn, nó tạo nên những ký ức tiêu cực. Để ký ức tiêu cực không gây hại, chúng ta cần tiếp nhận chúng một cách tích cực và chăm chỉ tập thiền đúng cách. Đây là nghiên cứu của các nhà khoa học thuộc Đại học Y khoa Wake Forest (Hoa Kỳ). Cụ thể, chúng ta cần:

7. Tiếp nhận những ký ức tiêu cực một cách tích cực

Cơ thể chúng ta có xu hướng củng cố những ký ức tiêu cực. Nếu không có cách nhìn tích cực, thì sự nhớ lại những thứ tiêu cực sẽ khiến chúng ta đau khổ. Các nhà khoa học tin rằng, xu hướng này có tầm quan trọng về mặt tiến hoá. Mục đích của việc hồi tưởng lại những biến cố tiêu cực là để chúng ta nhớ lại và rút kinh nghiệm, cẩn trọng trước những đe dọa tương tự trong tương lai. Ví dụ, việc nhớ lại tình huống con hổ tấn công sẽ giúp ngăn ngừa những trường hợp tương tự. Một người bị trấn lột sẽ nhớ kỹ những chi tiết về khẩu súng, khuôn mặt của tên trấn lột, con đường xảy ra biến cố... để từ đó rút kinh nghiệm, cẩn thận và sẵn sàng hơn ở những tình huống tương tự có thể xảy ra trong tương lai...

 Cách tiếp nhận những ký ức tiêu cực một cách tích cực còn được các nhà khoa học gọi đó là quan điểm tiến hoá và cho rằng, ký ức tiêu cực là một món quà mà thượng đế ban tặng để giúp chúng ta trưởng thành và nhiều kinh nghiệm hơn đối với những thất bại, đau buồn đã gặp trong quá khứ.

8.  Luyện tập “thiền” thường xuyên trong cuộc sống

Nghiên cứu mới đây của các nhà khoa học Đại học Y khoa Wake Forest (Hoa Kỳ) đã chứng minh rằng: “thiền chính niệm” có thể cải thiện sức khỏe não bộ, nhất là vùng đồi hải mã. Họ tiến hành nghiên cứu trên 2 nhóm người từ 55-90 tuổi. Nhóm thứ nhất được tham gia khoá học thiền chính niệm trong 8 tuần. Nhóm thứ 2 nằm trong danh sách chờ học thiền khoá tiếp theo. Kết quả cho thấy, nhóm thứ nhất (gồm những người thực hành thiền) nhận được những tác dụng tích cực tới đồi hải mã, cảm thấy giảm được những căng thẳng, hạn chế những hồi ức tiêu cực, tăng thêm những nhận thức tích cực của mình hơn hẳn nhóm thứ 2.

Luyện tập “thiền” thường xuyên, đúng phương pháp giúp hạn chế những ký ức tiêu cực.

Như vậy, “thiền” không những tốt cho sức khỏe mà còn hạn chế những ký ức tiêu cực (luôn muốn trở về để quấy rầy chúng ta). Tất nhiên, muốn đạt được hiệu quả đích thực, những thực hành thiền đòi hỏi phải chuẩn xác, đúng phương pháp, nếu không, có thể sẽ bị phản tác dụng.

(Nguồn: Trần Anh; Tạp chí Khoa học và Công nghệ)

Đọc văn bản dưới đây và trả lời câu hỏi:

WHO ưu tiên tiếp cận các phương pháp điều trị bệnh tiểu đường và ung thư trong Danh mục thuốc thiết yếu mới

1. Thuốc điều trị bệnh tiểu đường

TS Tedros Adhanom Ghebreyesus - Tổng giám đốc WHO cho biết: bệnh tiểu đường đang gia tăng trên toàn cầu và tăng nhanh hơn ở các nước có thu nhập thấp và trung bình. Quá nhiều người cần insulin nhưng lại gặp khó khăn về tài chính. Danh mục thuốc thiết yếu bao gồm các chất tương tự insulin, cùng với nỗ lực đảm bảo khả năng tiếp cận với tất cả các sản phẩm insulin là một bước quan trọng để đảm bảo tất cả những ai cần sản phẩm cứu mạng này đều có thể tiếp cận được ”.

2. Insulin được phát hiện như một phương pháp điều trị bệnh tiểu đường cách đây 100 năm và nó đã nằm trong Danh mục thuốc thiết yếu của WHO lần đầu tiên vào năm 1977. Tuy nhiên, nguồn cung cấp insulin hạn chế, giá cao ở một số quốc gia có thu nhập thấp, trung bình hiện đang là một rào cản đáng kể đối với việc điều trị bệnh tiểu đường. Ví dụ, ở thủ đô Accra của Ghana, lượng insulin cần thiết cho một tháng sẽ khiến một công nhân tiêu tốn tương đương với 5,5 ngày lương mỗi tháng. Việc sản xuất insulin tập trung ở một số ít cơ sở sản xuất, trong đó có 3 nhà sản xuất kiểm soát phần lớn thị trường toàn cầu đã dẫn đến sự độc quyền, giá thành cao đối với nhiều người và hệ thống y tế.

3. Việc cho phép các chất tương tự insulin có tác dụng kéo dài (insulin degludec, detemir và glargine) và các biosimilars của chúng nhằm tăng khả năng tiếp cận điều trị bệnh tiểu đường. Điều này cũng có nghĩa là các chất tương tự insulin sinh học có thể đủ điều kiện tham gia chương trình sơ tuyển của WHO; việc sơ tuyển của WHO có thể dẫn đến việc các loại biosimilars đảm bảo chất lượng hơn được đưa vào thị trường quốc tế, tạo ra sự cạnh tranh để hạ giá thành và mang lại cho các quốc gia có có nguồn lực y tế thấp có sự lựa chọn sản phẩm tốt hơn.

4. Các chất tương tự insulin có tác dụng kéo dài mang lại một số lợi ích lâm sàng bổ sung cho bệnh nhân thông qua thời gian tác dụng kéo dài, điều này đảm bảo rằng mức đường huyết có thể được kiểm soát trong thời gian dài hơn mà không cần dùng liều tăng cường. Chúng mang lại lợi ích đặc biệt cho những bệnh nhân có mức đường huyết thấp nguy hiểm với insulin người. Sự linh hoạt hơn trong thời gian và liều lượng các chất tương tự insulin đã được chứng minh là cải thiện chất lượng cuộc sống cho những bệnh nhân mắc bệnh tiểu đường. Tuy nhiên, insulin vẫn là một yếu tố quan trọng trong điều trị bệnh tiểu đường và việc tiếp cận với loại thuốc cứu mạng này phải tiếp tục được hỗ trợ thông qua sự sẵn có và khả năng chi trả tốt hơn.

5. Danh mục cũng bao gồm các chất ức chế Sodium-Glucose Co-Transporter-2 (SGLT2) empagliflozin, canagliflozin và dapagliflozin như là liệu pháp hàng đầu ở người lớn mắc bệnh tiểu đường loại 2. Các loại thuốc uống này đã được chứng minh là mang lại một số lợi ích, bao gồm giảm nguy cơ tử vong, suy thận và các biến cố tim mạch. Bởi vì các chất ức chế SGLT2 vẫn được cấp bằng sáng chế và có giá cao, nên việc cải thiện khả năng tiếp cận với các loại thuốc điều trị bệnh tiểu đường bao gồm insulin và thuốc ức chế SGLT2 là một trong những quy trình của Hiệp định Tiểu đường toàn cầu, do WHO đưa ra vào tháng 4/2021 và là chủ đề chính được thảo luận với các nhà sản xuất thuốc.

6. Thuốc điều trị ung thư

Ung thư là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây ra bệnh tật và tử vong trên toàn thế giới (có gần 10 triệu ca tử vong vào năm 2020, trong đó 70% xảy ra ở các nước có thu nhập thấp và trung bình). Những đột phá mới đã được thực hiện trong điều trị ung thư trong những năm qua, như các loại thuốc nhắm vào đặc điểm phân tử cụ thể của khối u, một số trong số đó mang lại kết quả tốt hơn nhiều so với hóa trị liệu “truyền thống” cho nhiều loại ung thư. 4 loại thuốc mới để điều trị ung thư đã được thêm vào Danh mục thuốc thiết yếu lần này: 1) Enzalutamide - một chất thay thế cho abiraterone, dùng cho bệnh ung thư tuyến tiền liệt; 2) Everolimus - dùng cho u tế bào hình sao, một loại u não ở trẻ em; 3) Ibrutinib - một loại thuốc nhắm mục tiêu cho bệnh bạch cầu mạn tính; và 4) Rasburicase - thuốc điều trị biến chứng nghiêm trọng của một số phương pháp điều trị ung thư.

7. Danh mục cũng đã được mở rộng, bao gồm điều trị nhắm mục tiêu bệnh bạch cầu. Các chỉ định ung thư mới ở trẻ em đã được thêm vào cho 16 loại thuốc đã được liệt kê, bao gồm cả u thần kinh đệm cấp độ thấp (dạng u não phổ biến nhất ở trẻ em). Một nhóm các kháng thể giúp tăng cường phản ứng miễn dịch đối với các tế bào khối u, được gọi là chất ức chế điểm kiểm soát miễn dịch PD-1/PD-L1, không được khuyến khích đưa vào danh sách điều trị một số bệnh ung thư phổi, mặc dù có hiệu quả, chủ yếu là do chúng quá mạnh, giá cao và lo ngại rằng chúng khó quản lý trong các hệ thống y tế có nguồn lực thấp. Các loại thuốc điều trị ung thư khác không được khuyến khích niêm yết do không chắc chắn có thêm lợi ích lâm sàng so với các loại thuốc đã được niêm yết, giá cao và các vấn đề quản lý trong các cơ sở y tế có nguồn lực thấp. Chúng bao gồm osimertinib cho bệnh ung thư phổi, daratumumab cho bệnh đa u tủy và ba loại điều trị (thuốc ức chế CDK4/6, fulvestrant và pertuzumab) cho bệnh ung thư vú.

(Nguồn: Nguyễn Thị Hường; Theo who.int)

Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:

Hé lộ những phát hiện bất ngờ liên quan đến Mặt Trời

1. Lần đầu tiên, các nhà khoa học sẽ có được cái nhìn sâu hơn về gió Mặt trời và các cơn bão từ có thể tác động tiêu cực đến các vệ tinh và thiết bị điện tử trên Trái Đất, sau khi tàu thăm dò Parker Solar của Cơ quan Hàng không Vũ trụ Mỹ (NASA) tiếp cận gần hơn với bề mặt Mặt Trời và gửi về những dữ liệu liên quan đến quầng Mặt Trời, một vùng siêu nóng trong khí quyển.

2. Theo nghiên cứu được công bố ngày 4/12 trên tạp chí Nature, tàu vũ trụ Parker Solar - có kích cỡ bằng một chiếc ô tô và được phóng lên vũ trụ vào tháng 8/2018 - đã thực hiện được hành trình tiếp cận Mặt Trời ở khoảng cách gần nhất từ trước tới nay và sẽ thử tiến đến điểm chỉ cách bề mặt Mặt trời 6 triệu km trong các lần bay thử nghiệm được tiến hành trong 7 năm tới. Những dữ liệu mà tàu Parker Solar gửi về sẽ cung cấp những chi tiết mới về gió Mặt Trời, các cơn bão từ và cách thức Mặt Trời tạo nên thời tiết trong vũ trụ.

3. Tuy nhiên, mối quan ngại chính hiện nay liên quan đến các cuộc thăm dò là sức nóng lên tới 1 triệu độ C ở quầng Mặt Trời, cao gấp nhiều lần nhiệt độ trên chính bề mặt Mặt Trời vốn chỉ ở mức 6.000 độ C. Vì thế, theo nhà khoa học Alexis Rouillard của Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Quốc gia Pháp (CNRS) và là đồng tác giả của một trong 4 bản báo cáo liên quan đến những phát hiện đầu tiên của tàu thăm dò Parker Solar, các nhà nghiên cứu sẽ phải tìm hiểu cách thức tại sao quầng Mặt Trời lại có thể tự nóng lên, thay vì phải nguội đi theo nguyên lý thông thường (càng xa nguồn nhiệt thì nhiệt độ càng giảm).

4. Cùng chia sẻ quan điểm này, Giáo sư chuyên ngành khoa học vũ trụ, khí hậu và kỹ sư Justin Kasper cũng cho biết, ngay khi tàu Parker Solar mới tiếp cận những quỹ đạo vòng ngoài của Mặt Trời, nhóm nghiên cứu đã bị sốc về sự biến đổi nhiệt độ của quầng Mặt trời. Một nghiên cứu của Đại học Michigan trước đây cho rằng những dao động trong từ trường của Mặt Trời có thể là nhân tố giúp quầng Mặt trời nóng lên. Tuy nhiên, các dữ liệu mới cho thấy các sóng từ trường trên thực tế mạnh hơn rất nhiều, mạnh tới mức chúng có thể đổi hướng hoàn toàn của từ trường và tạo ra năng lượng cho quầng Mặt Trời.

5. Cũng trong nghiên cứu mới của tàu Parker Solar, các nhà khoa học đã vô cùng ngạc nhiên khi phát hiện ra nguyên lý tăng tốc của gió Mặt Trời và quỹ đạo của proton, electron và các hạt khác được phát ra từ Mặt Trời.

6. Trước đây khoa học từng cho rằng khi càng tới gần, từ trường của Mặt Trời sẽ hút gió theo cùng hướng mà nó di chuyển và hiệu ứng này sẽ yếu dần khi càng ra xa. Tuy nhiên, khi tàu thăm dò Parker Solar tới được gần Mặt Trời hơn, họ đã phát hiện ra những vòng quay lớn gấp 10-20 lần so với các mô hình mà họ dự đoán. Phát hiện mới này đã thay đổi hoàn toàn những giả thiết từ trước đến nay về cách thức gió Mặt Trời được tạo nên như thế nào. Hiểu rõ hơn về điều này sẽ giúp các nhà khoa học đưa ra dự đoán chuẩn xác hơn về thời tiết trong vũ trụ, nhất là trong việc xác định quầng Mặt Trời sẽ tác động đến Trái Đất như thế nào và chuẩn bị cho các chuyến du hành của con người lên Mặt Trăng và sao Hỏa.

7. Năm 1859, "một sự kiện thời tiết vũ trụ" đã làm tê liệt mạng lưới điện báo trên Trái Đất. Theo Giáo sư Vật lý Stuart Bale của Đại học California Berkeley, khi xã hội ngày càng phụ thuộc vào công nghệ tiên tiên, tác động từ Mặt Trời có thể sẽ trở nên rất nghiêm trọng. Nếu như có thể kịp thời dự báo thời tiết vũ trụ, con người có thể đóng sập hoàn toàn hoặc cô lập một phần lưới điện, hoặc tắt hệ thống vệ tinh có nguy cơ dễ bị tổn thương.

8. Trái Đất cách Mặt Trời 150 triệu km và tàu thăm dò Parker Solar đã tới được điểm chỉ còn cách Mặt Trời 24 triệu km để thu thập dữ liệu phục vụ cho mục đích nghiên cứu. Mục tiêu cuối cùng là con tàu có thể tiếp cận tới điểm chỉ cách bề mặt Mặt Trời 6 triệu km, gần hơn 7 lần so với bất kỳ tàu vũ trụ nào trước đây. Tàu Parker Solar chịu được sức nóng khắc nghiệt khi bay xuyên qua quầng Mặt Trời, khu vực ngoài cùng và cũng là nơi tạo ra gió Mặt Trời từ sự kết hợp của các hạt điện tích vô cùng nóng phát ra từ Mặt Trời.

Tàu thăm dò Parker Solar được đặt theo tên của nhà vật lý thiên văn người Mỹ chuyên nghiên cứu về Mặt Trời Eugene Parker, người đầu tiên đưa ra giả thuyết về gió Mặt Trời khi miêu tả đây là hệ thống từ trường, các hạt năng lượng và thể plasma tạo thành.

(Nguồn: vtv.vn)

1

Đọc văn bản dưới đây và trả lời câu hỏi:

Làm thế nào để phát triển não bộ của trẻ ?

1. Bạn sẽ không thể nhìn thấy những gì đang diễn ra bên trong não bộ của trẻ sơ sinh. Bạn sẽ không thể thấy được hiện tượng chất dẫn truyền thần kinh, một chất hóa học của não, được giải phóng một cách mạnh mẽ khi một nơ-ron từ tai của đứa trẻ mang tín hiệu mã hóa của tiếng “Mẹ” kết nối với một nơ-ron trong vỏ não thính giác. Và kể từ thời điểm đó, tiếng “Mẹ” được ghi lại trong một nhóm tế bào não của đứa trẻ và các tế bào này sẽ không ghi nhận bất kỳ một âm thanh nào khác trong suốt phần đời còn lại của đứa trẻ.

2. Sử dụng kỹ thuật chụp cắt lớp phát xạ positron (PET), tiến sĩ Harry Chugani, một nhà thần kinh học nhi khoa, có thể quan sát thấy các vùng trong não bộ của đứa trẻ lần lượt sáng lên giống như các khu phố lần lượt sáng đèn sau sự cố mất điện. Ông cũng có thể đo hoạt động của hành não và vỏ não giác quan ngay từ giây phút đứa trẻ ra đời. Ông có thể quan sát các hoạt động trong vỏ não thị giác khi đứa trẻ được 2 và 3 tháng tuổi. Ông có thể thấy vỏ não phía trước sáng lên khi đứa trẻ được 6 đến 8 tháng tuổi. Nói cách khác, ông thấy rằng bộ não của trẻ vẫn tiếp tục phát triển rất lâu sau khi đứa trẻ ra khỏi bụng mẹ, không chỉ tăng kích cỡ mà còn hình thành các kết nối siêu nhỏ chịu trách nhiệm về các hoạt động cảm giác, học tập và ghi nhớ.

3. Các nhà khoa học đang bắt đầu nhận ra rằng những trải nghiệm sau khi ra đời sẽ quyết định cấu trúc của não người chứ không phải do một thứ gì bẩm sinh. Chỉ cách đây 15 năm, các nhà thần kinh học vẫn cho rằng cấu trúc não của trẻ được qui định bởi gen di truyền từ trước khi trẻ sinh ra.

4. Tuy nhiên, đến năm 1996, các nhà nghiên cứu nhận định rằng điều đó là sai.

5. Kể từ đó, họ bắt đầu nghiên cứu cách thức những trải nghiệm đó tạo nên các mạng lưới kết nối thần kinh trong não như thế nào. Khi trẻ mới sinh ra, có khoảng 100 tỷ nơ-ron thần kinh tạo nên hơn 50 nghìn tỷ kết nối (khớp thần kinh). Các gen mà đứa trẻ mang đã quyết định cấu trúc cơ bản của bộ não trẻ. Chúng thực hiện các kết nối trong cuống não để điều khiển tim đập và phổi hô hấp. Nhưng đó chưa phải là tất cả. Một nửa trong tổng số 80.000 gen khác nhau trong cơ thể người được cho là có liên quan đến việc hình thành và điều khiển hoạt động của hệ thần kinh trung ương. Tuy 35 nhiên, con số này chưa thấm vào đâu so với những gì bộ não cần. Trong những tháng đầu tiên của cuộc đời, số lượng các khớp thần kinh sẽ tăng gấp 20-50 lần, lên tới hơn 1 triệu tỷ. Cơ thể người không có đủ số lượng gen để thực hiện một lượng kết nối lớn đến như vậy.

6. Việc đó sẽ được thực hiện nhờ trải nghiệm – hay nói cách khác là tất cả 40 các tín hiệu mà đưa trẻ nhận được từ thế giới bên ngoài. Trải nghiệm dường như có tác dụng củng cố các khớp thần kinh. Cũng giống như việc một ký ức sẽ phai mờ dần nếu thỉnh thoảng không được khơi lại, các khớp thần kinh không được sử dụng cũng sẽ bị teo đi trong một quá trình gọi là thải loại. Cách để củng cố các kết nối mong manh này là nhờ sự kích thích.

7. Kích thích không có nghĩa là bắt một đứa trẻ mới chập chững biết đi phải tham gia các lớp học đặc biệt. Mà đó là những thứ đơn giản hơn rất nhiều – phân loại tất theo màu sắc, hay lắng nghe giai điệu nhẹ nhàng của một câu chuyện cổ tích. Trong một nghiên cứu có qui mô lớn nhất từ trước đến nay về điều gì làm nên sự khác biệt, giáo sư Craig Ramey của Đại học Alabama đã phát hiện ra rằng chính trò chơi xếp hình, trò chơi với các hạt sáng tạo, trò chơi ú òa và các trò chơi dân gian khác sẽ giúp tăng cường nhận thức, phát triển khả năng vận động và khả năng ngôn ngữ, và việc không phải trải qua những sang chấn tâm lý sẽ mang lại những hiệu quả lâu dài.

8. Sự hình thành các khớp thần kinh trong vỏ não vận động bắt đầu khi trẻ được khoảng 2 tháng tuổi. Trong khoảng thời gian đó, trẻ sơ sinh dần dần mất phản xạ “giật mình” và “tìm vú mẹ”, và bắt đầu làm chủ các chuyển động có chủ đích. Ở 3 tháng tuổi, sự hình thành các khớp thần kinh vỏ thị giác đạt đến mức cao nhất; lúc này bộ não bắt đầu tinh chỉnh các kết nối cho phép mắt tập trung vào một vật thể. Ở giai đoạn 8 đến 9 tháng tuổi, hồi hải mã, nơi lập chỉ mục và lưu trữ ký ức, trở nên hoàn thiện; chỉ đến lúc đó đứa trẻ mới có thể hình thành những ký ức rõ ràng về cách di chuyển một chiếc điện thoại di động. Theo tiến sĩ Chugani, trong 6 tháng đầu đời, vùng vỏ não trước trán hình thành các khớp thần kinh với tốc độ tiêu thụ năng lượng gấp đôi so với não người trưởng thành. Tốc độ nhanh khủng khiếp đó tiếp tục diễn ra trong suốt 10 năm đầu đời của trẻ.

Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:

Xử lý rác thải y tế bằng phương pháp hấp nhiệt ướt

Nhu cầu từ thực tiễn

Chất thải y tế là loại chất thải rất nguy hại, có độc tính cao, khả năng lây nhiễm mạnh, nếu không được xử lý khoa học sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường và sức khỏe cộng đồng. Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), khoảng 80% chất thải từ các cơ sở y tế là chất thải thông thường, 20% còn lại là chất thải nguy hại. Hiện nay trên thế giới (và cả ở Việt Nam) đang áp dụng 2 công nghệ chính để xử  lý rác thải y tế lây nhiễm, đó là công nghệ đốt và không đốt. Ở các nước phát triển, công nghệ không đốt đã được thay thế hoàn toàn cho công nghệ đốt.

Tại Việt Nam, hầu hết các cơ sở y tế đang sử dụng lò đốt để xử lý rác thải y tế nguy hại. Công nghệ đốt giúp loại bỏ hoàn toàn các chất lây nhiễm có trong rác thải y tế thành khí CO2 và hơi nước ở nhiệt độ khoảng 1.000oC. Tuy nhiên, công nghệ này có nhược điểm là khi đốt sẽ gây ra chất thải thứ phát là dioxin và furan - những độc tố ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe con người và môi trường.

Hiện nay với sự tiến bộ của khoa học và công nghệ, nhiều phương pháp xử lý chất thải đã ra đời, giúp xử lý triệt để các chất/ hợp chất nguy hại có trong rác thải y tế mà vẫn đảm bảo tiêu chuẩn về môi trường, trong đó phải kể đến công nghệ nghiền hấp tiệt trùng. Nguyên lý hoạt động của công nghệ này là dùng hơi nước bão hòa ở nhiệt độ cao để khử toàn bộ vi trùng, vi khuẩn và những tác nhân gây bệnh có hại. Mặc dù đã có một số đơn vị ứng dụng công nghệ này vào lĩnh vực xử lý chất thải y tế, tuy nhiên đây là công nghệ - thiết bị nhập khẩu nên doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn khi tiến hành bảo trì, bảo dưỡng, hay thay thế nếu gặp sự cố.

Một công trình mang nhiều ý nghĩa

Để từng bước chuyển đổi công nghệ xử lý rác thải y tế truyền thống, đáp ứng nhu cầu của xã hội, Viện Nghiên cứu Cơ khí đã đề xuất và được phê duyệt thực hiện đề tài: “Nghiên cứu, thiết kế, chế tạo và đưa vào vận hành hệ thống xử lý rác thải y tế bằng phương pháp hấp nhiệt ướt, năng suất 4.000-4.500 kg rác/ngày”. Sau 2 năm triển khai thực hiện (2019-2020), các nhà khoa học của Viện đã chế tạo thành công 1 nồi hấp, 1 nồi hơi, 1 tủ điều khiển nồi hấp, 1 tủ điều khiển nồi hơi (phần cứng, phần mềm điều khiển) và bộ quy trình công nghệ xử lý rác thải y tế hấp nhiệt ướt. Sản phẩm đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp phép vận hành thử nghiệm (Công văn số 6524/ BTNMT-TCM ngày 18/11/2020). Điểm đặc biệt của thiết bị do Viện thiết kế, chế tạo là toàn bộ quá trình xử lý rác được vận hành tự động, khi hết thời gian khử trùng, rác được làm nguội và nghiền nhỏ, ép thành bánh, sau đó có thể tiến hành chôn lấp như chất thải thông thường.

Sau hai tháng được lắp đặt thử nghiệm tại Công ty Cổ phần vật tư thiết bị môi trường 13 (URENCO 13) cho thấy, hệ thống vận hành ổn định; các xét nghiệm vi sinh rác thải y tế sau khi được xử lý đạt kết quả theo yêu cầu của Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương.

Đặc biệt, hệ thống xử lý rác thải y tế do Viện Nghiên cứu Cơ khí chế tạo còn có ưu điểm hơn hẳn, như thời gian xử lý rác rút ngắn xuống chỉ còn khoảng 80-85%, năng suất tăng khoảng 15-20%, giá thành chỉ bằng 1/3 so với giá nhập ngoại. Có thể khẳng định, việc các nhà khoa học trong nước nghiên cứu, chế tạo thành công hệ thống xử lý rác thải y tế bằng phương pháp hấp nhiệt ướt đã mang lại nhiều ý nghĩa quan trọng, cụ thể như:

Thứ nhất, về khả năng ứng dụng: hiện tại  dây  chuyền  xử  lý rác thải bằng công nghệ hấp nhiệt ướt đang được vận hành tại URENCO 13 đã chứng minh được tính ưu việt và mang lại hiệu quả kinh tế cao. Trước mắt, hệ thống sẽ được nhân rộng tại các đơn vị thành viên của URENCO phục vụ xử lý rác thải y tế tập trung cho các bệnh viện tại khu vực Hà Nội và một số tỉnh phía Bắc, sau đó sẽ nhân rộng sang các đơn vị xử lý rác thải bệnh viên tại miền Trung và miền Nam

Thứ hai, về hiệu quả môi trường và xã hội: công nghệ xử lý rác thải y tế bằng hấp nhiệt ướt không phát sinh chất thải thứ phát là dioxin và furan như công nghệ đốt. Với công nghệ này, Việt Nam sẽ thực hiện tốt hơn các công ước về bảo vệ môi trường đã ký kết với quốc tế như: Công ước về bảo vệ tầng ôzôn 1985, Tuyên bố của Liên hợp quốc về môi trường và phát triển 1992, Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC) 1992, Công ước Stockholm về các chất ô nhiễm  hữu cơ khó phân hủy (POP) 2001..., tạo ra môi trường trong sạch cho xã hội.

Thứ ba, về hiệu quả kinh tế: theo báo cáo của Công ty URENCO 13, chi phí xử lý rác thải y tế bằng công nghệ hấp nhiệt ướt đã giảm khoảng 40% so với công nghệ đốt, đồng thời chi phí bảo dưỡng, sửa chữa thấp hơn rất nhiều so với công nghệ và thiết bị nhập khẩu.

Ngoài ra, việc nghiên cứu, thiết kế, chế tạo dây chuyền xử lý rác thải y tế theo công nghệ mới đã khẳng định năng lực của các nhà khoa học trong nước trong việc làm chủ công nghệ thiết kế chế tạo thiết bị xử lý rác thải y tế, góp phần nâng cao sức khỏe người lao động và bảo vệ môi trường.

(Nguồn: Nguyễn Văn Bình, Đỗ Đình Hưởng; Tạp chí Khoa học và Công nghệ)

Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:

Công nghệ chế biến muối tinh dùng cho sản xuất dược phẩm và các ngành công nghiệp khác

1. Muối được sử dụng nhiều trong ngành công nghiệp và y dược, với lượng tiêu thụ nhiều gấp 10-20 lần so với dùng cho ăn uống trực tiếp thông qua chế biến thực phẩm hàng ngày. Muối được sản xuất chủ yếu tại các đồng muối khu vực Duyên hải phía Bắc, miền Trung và Nam Bộ. Tuy nhiên, đây là những loại muối ngắn ngày, hàm lượng NaCl chỉ đạt khoảng 92%, chứa nhiều tạp chất. Nhằm nâng cao chất lượng muối tinh, Công ty CP Muối và Thực phẩm Bình Định đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu công nghệ và thiết bị chế biến muối tinh, công suất 2,5 - 3 tấn/giờ dùng cho sản xuất dược phẩm và các ngành công nghiệp khác”. Việc thực hiện đề tài không chỉ giúp các cán bộ của Công ty làm chủ được công nghệ sản xuất muối tinh mà còn tạo điều kiện nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm muối tinh trên thị trường.

Thực trạng các cơ sở chế biến muối trên cả nước

2. Cơ cấu tiêu dùng và sử dụng muối ăn (NaCl) trên thế giới gồm 60% cho sản xuất công nghiệp và y dược, 30% cho chế biến thực phẩm và ăn trực tiếp, 10% cho các tiêu dùng khác. Muối có mặt trong khoảng 14.000 loại sản phẩm công nghiệp và thực phẩm. Muối ăn mà ngày nay chúng ta mua về dùng không phải là NaCl nguyên chất, mà đã qua tinh chế và bổ sung thêm một số thành phần vi lượng. Trong sinh hoạt hàng ngày, muối ăn được dùng làm chất điều vị, bảo quản thực phẩm. Gia súc ăn thêm muối ăn sẽ chóng lớn, ít bệnh tật. Muối ăn còn được dùng trong việc chọn giống và trộn với các loại phân hữu cơ để bón cho lúa và hoa màu. Từ muối ăn có thể chế tạo ra nhiều loại hóa chất như kẽm clorua dùng trong việc hàn kim loại, thủy ngân clorua dùng trong y dược, natri clorat và hypoclorat dùng làm thuốc hiện ảnh.

3. Hiện nay, nước ta có trên 70 cơ sở chế biến muối nhưng chỉ có 15 dây chuyền chế biến muối tinh liên tục theo phương pháp nghiền rửa muối, trong đó có 11 dây chuyền do Công ty CP Công nghệ Muối biển - Saltechco thiết kế chế tạo và lắp đặt đồng bộ, 2 dây chuyền nhập khẩu đồng bộ của Tây Ban Nha và 2 dây chuyền hỗn hợp dùng máy móc của Việt Nam và Trung Quốc. Sản phẩm của các dây chuyền này hầu hết là muối tinh và muối tinh sấy dùng cho ngành công nghiệp thực phẩm và ăn trực tiếp, đáp ứng khoảng 40% nhu cầu thị trường. Các muối chất lượng cao đặc biệt là muối cho ngành dược, đều phải nhập khẩu từ Thái Lan, Trung Quốc. Dù muối được sử dụng trong lĩnh vực nào thì hàm lượng NaCl cũng luôn được chú trọng. Vì vậy, độ tinh khiết của muối càng cao thì càng có giá trị. Việc dùng nước muối bão hòa NaCl sau khi xử lý hóa chất loại bỏ hầu hết các tạp chất, sau đó đưa vào nồi cô đặc chân không để sản xuất muối tinh khiết được hầu hết các nước áp dụng. Tuy nhiên, việc dùng công nghệ nghiền rửa để loại tạp chất và đặc biệt là việc dùng nước chạt riêng biệt để rửa cho mỗi công đoạn trong dây chuyền chế biến sao cho sản phẩm muối đạt tiêu chuẩn phục vụ ngành dược thì hầu như chưa có ở nước ta.

Ứng dụng công nghệ nâng cao chất lượng muối tinh

4. Trước thực trạng trên, Bộ Khoa học và Công nghệ đã tuyển chọn và giao cho nhóm nghiên cứu thuộc Công ty CP Muối và Thực phẩm Bình Định thực hiện đề tài khoa học cấp nhà nước: “Nghiên cứu công nghệ và thiết bị chế biến muối tinh, công suất 2,5-3 tấn/giờ dùng cho sản xuất dược phẩm và các ngành công nghiệp khác” thuộc Dự án “Nghiên cứu ứng dụng công nghệ và thiết bị sản xuất muối sạch, muối tinh và hình thành liên kết theo chuỗi giá trị giữa Công ty CP Muối và thực phẩm Bình Định với diêm dân tại Bình Định”. Sau khi thực hiện đề tài, nhóm nghiên cứu đã giải quyết các nội dung sau:

5. Thứ nhất, đã thiết kế, chế tạo, lắp đặt vận hành dây chuyền chế biến muối tinh bằng công nghệ cô đặc chân không, năng suất 2,5-3 tấn/giờ, dùng cho sản xuất muối tinh trong ngành dược và các ngành công nghiệp khác từ nguyên liệu muối đạt theo tiêu chuẩn TCCS 01 và TCCS 02. Dây chuyền đã được Công ty CP Chứng nhận và Kiểm định Vinacontrol giám định công suất đạt yêu cầu. Đồng thời hoàn thiện quy trình và các công thức sản xuất ra các loại muối chăm sóc sức khỏe từ muối tinh như muối thông minh (thành phần chính là Natri) dành cho người cao huyết áp, muối ngâm chân, muối sữa spa.

6. Thứ hai, tạo ra được sản phẩm muối sau khi tinh chế đạt yêu cầu, được Trung tâm Kỹ thuật Tiêu chuẩn Đo lường chất lượng 2 kiểm định đạt các chỉ tiêu hóa lý như đã đăng ký trong đề tài. Quy trình sản xuất và toàn bộ dây chuyền thiết bị được nghiên cứu chế tạo trong nước nên có giá thành thấp hơn so với thiết bị ngoại nhập từ 30 đến 50%, giúp tiết kiệm chi phí.

7. Thứ ba, nâng cao giá trị sản phẩm giúp giá bán tăng 20% so với muối tinh thông thường. Nếu sản xuất đạt 100% công suất thiết kế, mỗi năm vận hành dây chuyền thiết bị sản xuất muối này sẽ tạo ra 10.982 tấn muối sản phẩm/năm. Tính sơ bộ hiệu quả kinh tế mang lại đạt khoảng 7,3 triệu đồng/năm. Ngoài ra, việc xây dựng nhà máy chế biến muối tinh khiết từ nguồn nguyên liệu sạch của địa phương còn góp phần phục vụ công nghiệp chế biến thực phẩm và hóa dược, từng bước thay thế hàng nhập khẩu. Dây chuyền tinh chế muối tại Bình Định sẽ giúp thúc đẩy phát triển các vùng nguyên liệu muối sạch của tỉnh, tạo ra nhiều công ăn việc làm cho diêm dân, giúp họ có thu nhập ổn định, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người lao động.

8. Thứ tư, góp phần thúc đẩy việc nghiên cứu, phát triển các thiết bị, dụng cụ tiên tiến cung cấp cho ngành sản xuất muối nói riêng và sản xuất thực phẩm nói chung nhằm mang lại hiệu quả thiết thực cho xã hội.

Có thể khẳng định, sản phẩm của đề tài chính là kết quả của việc ứng dụng các thành tựu khoa học và công nghệ, phát huy sự sáng tạo của các nhà nghiên cứu trong nước với mong muốn góp phần nâng cao sức khỏe cộng đồng cho thế hệ ngày nay và mai sau.

(Nguồn:  Phùng Duy Tiến, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam)

 

Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:

STEM và giáo dục STEM tại Hoa Kỳ

1. STEM là phương pháp giáo dục dành cho mọi đối tượng học sinh. Dù đó là học sinh khuyết tật hay không biết tiếng Anh, hoặc chưa biết đọc mà chỉ biết vẽ. STEM cũng có thể áp dụng cho các em nhỏ khoảng 5-6 tuổi một cách giản dị, thiết thực, thú vị, ở ngay tại nhà hoặc xung quanh nơi ở. Đặc biệt, làm trải nghiệm STEM không giống như làm Toán hay các môn khoa học khác bởi không có đáp án chính xác. Với STEM, mỗi người có một sản phẩm khác nhau. STEM khuyến khích tư duy sáng tạo và phản biện, giúp học sinh học hỏi từ nhau thông qua giao tiếp, trình bày ý kiến, sáng tạo, tư duy…

2. Có hai điểm dễ gây nhầm lẫn trong khái niệm STEM: 1) Kỹ thuật không chỉ là thao tác kỹ thuật, mà còn được hiểu là cả quy trình thực hiện dự án, tức là quy trình giải quyết vấn đề; 2) Công nghệ thường bị mọi người nhầm tưởng rằng phải có máy tính hay thiết bị số mới là công nghệ, mà đôi khi chỉ là việc sử dụng thành thạo các công cụ/thiết bị (dùng kéo cắt hay dùng nhiệt kế đo cũng chính là áp dụng công nghệ). Một vài ví dụ dễ hiểu về STEM chính là cách dạy trẻ em giải quyết những vấn đề thực tế như: làm thế nào để tiết kiệm điện năng, thiết kế lộ trình của ô tô tải thế nào cho hiệu quả kinh tế, xây cái chuồng gà thế nào cho hợp lý, phối hợp quần áo kiểu gì để đỡ hấp nhiệt nhất… Cách hiểu này hoàn toàn phù hợp với nhận định rằng, trẻ em chính là những kỹ sư bẩm sinh, chúng sẽ khám phá và tìm tòi thông qua các hoạt động vui chơi. Nhiệm vụ của người hướng dẫn là định hướng, phản hồi, tổ chức.

3. Thế giới hiện nay đòi hỏi mỗi chúng ta phải có khả năng thích nghi cao, chấp nhận thay đổi bất cứ khi nào và khả năng “đối chọi” với những thay đổi nhanh chóng. Những thay đổi mọi mặt về cuộc sống chỉ trong thời gian ngắn như dịch bệnh bất ngờ trên quy mô toàn cầu khiến cho khả năng giải quyết vấn đề, kỹ năng tư duy phản biện, kỹ năng làm việc trong bối cảnh chuyển đổi số, làm việc nhóm… cần hơn bao giờ hết. Những kỹ năng này có thể được tạo lập ngay từ khi còn nhỏ với việc tiếp cận qua những bài học STEM. Một số lợi ích mà STEM mang lại có thể kể đến như sau:

4. Thứ nhất, giáo dục STEM trang bị cho học sinh những kỹ năng sống của công dân trưởng thành trong tương lai. Nó sẽ giúp các em trở thành người có kỹ năng giao tiếp, biết giải quyết vấn đề và có suy nghĩ phản biện - tố chất quan trọng trong mọi mặt của đời sống.

Thứ hai, 4 yếu tố trong STEM (Toán, Khoa học, Công nghệ, Kỹ thuật) là những kiến thức cơ bản của nhân loại từ xa xưa, là nền tảng cho sự phát triển của đời sống con người. Chính vì vậy, giáo dục STEM cũng chính là giáo dục kiến thức cơ bản, nền tảng.

Thứ ba, giáo dục STEM chính là giáo dục về cuộc sống hàng ngày, về cách vận dụng kiến thức trong những bối cảnh thực tiễn để cải thiện đời sống và đặc biệt là để giải quyết vấn đề. Có thể nói, giáo dục STEM chính là cách xây chuồng gà sao cho hữu dụng, làm thế nào để có bữa ăn tối ngon miệng và ai cũng có chỗ ngồi thoải mái quanh bàn ăn, là cách bảo vệ nguồn nước sạch, hay sử dụng nguồn lực một tiết kiệm nhất…

5. Giáo dục STEM tại Hoa Kỳ

Đầu năm 2001, Tổ chức Khoa học quốc gia của Hoa Kỳ đưa ra cụm từ SMET (viết tắt của các từ: Science - Math - Engineering - Technology) về nhóm nghề nghiệp gồm Khoa học, Toán, Kỹ thuật và Công nghệ. Từ viết tắt này cũng bao gồm những ngành và chương trình học tích hợp kiến thức và kỹ năng của những lĩnh vực trên. Sau đó, cũng trong năm 2001, giáo sư, nhà sinh vật học Judith Ramaley - chủ tịch Hiệp hội các trường đại học/cao đẳng Hoa Kỳ đa sắp xếp lại các chữ cái để đổi từ SMET sang STEM. Từ đó, khái niệm STEM và chương trình học tập trung vào STEM chính thức đến với công chúng rộng rãi. Vượt khỏi biên giới Hoa Kỳ, chương trình STEM được phát triển ở Australia, Vương quốc Anh, Trung Quốc, Pháp, Hàn Quốc... Vào đầu những năm 2000, những ngành học tích hợp STEM ngày càng tăng lên, đặc biệt sau sự ra đời của bản báo cáo năm 2005 với tiêu đề: “Vượt khỏi cơn bão đang tới” do Học viện quốc gia Hoa Kỳ về Khoa học, Kỹ thuật và Y khoa công bố. Báo cáo nhấn mạnh mối liên hệ giữa sự thịnh vượng với KH&CN, giữa liên tục cải cách và giải quyết hiệu quả các vấn đề xã hội. Báo cáo cũng chỉ ra, trong các nhánh của STEM, học sinh Hoa Kỳ không đạt thành tựu nhanh như học sinh nhiều nước khác. Báo cáo dự đoán những hậu quả khốc liệt khi nước này không có sức cạnh tranh trong nền kinh tế toàn cầu do lực lượng lao động yếu kém. Do đó, cần tập trung vào nghiên cứu và giáo dục, đặc biệt là giáo dục STEM đối với học sinh - đây chính là những yếu tố quan trọng để duy trì sự thịnh vượng của Hoa Kỳ.

6. Tháng 11/2009, Tổng thống Hoa Kỳ Obama phát động chiến dịch Giáo dục để cải tiến với mục tiêu đưa học sinh lên vị trí hàng đầu về Toán và Khoa học trong vòng 10 năm. Năm 2010, Tổng thống Obama phát động chương trình “Thay đổi phương trình” nhằm nâng cao chất lượng giáo dục STEM tại Hoa Kỳ, chương trình này do CEO lãnh đạo các tập đoàn đảm trách. Năm 2014, bài kiểm tra về sự hiểu biết công nghệ và kỹ thuật được áp dụng chọn lọc cho một số học sinh nhằm đánh giá hiểu biết về áp dụng công nghệ, tư duy thiết kế hệ thống trong công nghệ, tác động và ảnh hưởng của công nghệ đối với xã hội. Cũng trong năm 2014, Đạo luật giáo dục STEM ra đời, bổ sung khoa học máy tính vào những lĩnh vực thuộc STEM, đồng thời cung cấp nhiều cơ hội đào tạo nâng cao cho giáo viên. Tháng 4/2016, Nhà trắng ra thông cáo báo chí rằng Hoa Kỳ đã đạt một nửa mục tiêu đào tạo 100.000 giáo viên STEM. Tiếp đó năm 2017, Tổng thống Trump ký đạo luật Truyền cảm hứng, yêu cầu NASA khuyến khích phái nữ tham gia vào những ngành nghề STEM. Cũng trong năm này, Tổng thống Trump phê duyệt ngân sách liên bang dành 200 triệu USD hàng năm cho giáo dục STEM chất lượng cao.

7. Như vậy, có thể khẳng định, Hoa Kỳ là quốc gia khởi nguồn và rất coi trọng giáo dục STEM, tuy nhiên với Hoa Kỳ, giáo dục STEM không xa vời và đắt đỏ. STEM dành cho mọi đối tượng, ứng dụng trong cuộc sống hàng ngày, phục vụ và giải quyết những vấn đề cũng như nhu cầu của thực tiễn, cộng đồng. STEM tại Hoa Kỳ dành cho cả học sinh nam và nữ, đặc biệt những học sinh nữ khi học những ngành liên quan đến STEM sẽ có nhiều cơ hội tìm được tài trợ và học bổng. Ở Hoa Kỳ, nhiều học sinh nữ tìm hiểu về robot, mơ ước được làm lập trình viên, theo học các ngành nghề liên quan STEM. Tại các trại hè STEM, tỷ lệ nam và nữ tham gia là ngang nhau. Nam nữ đều có cơ hội bình đẳng khi được tiếp cận với môn học này.

Chính phủ Hoa Kỳ cũng tạo cơ hội tiếp cận STEM bình đẳng cho mọi đối tượng, bất kể nguồn gốc, thu nhập, hay mức sống. Đặc biệt, những trường thuộc khu vực dân cư có thu nhập thấp thì các nguồn lực, tài nguyên cho việc triển khai STEM lại thường dồi dào hơn. Học sinh ở những trường này có cơ hội tham gia những trại hè STEM miễn phí, hay được ứng tuyển vào những chương trình, khoá học, học bổng STEM… Chính vì được cả hệ thống hỗ trợ nên việc thực hành STEM của các học sinh tại Hoa Kỳ trở nên thường xuyên và phổ biến cả ở trường và ở nhà. Các em được giáo dục STEM là một phần của cuộc sống và giúp cải thiện cuộc sống hàng ngày.

8. Để triển khai chương trình STEM, Hoa Kỳ có các mô hình: 1) Trường chuyên STEM (đây là mô hình có cấp độ cao và hoàn thiện nhất, toàn bộ chương trình học được chia thành các dự án với sự hợp tác cao độ giữa tất cả các giáo viên trong trường để đảm bảo chương trình học đúng nội dung của các dự án); 2) Trường có chứng chỉ STEM (đây là cấp độ 2, đạt các tiêu chuẩn nhất định như số lượng giáo viên có chứng chỉ dạy STEM, số giờ học và tiết học theo phương pháp STEM…); 3) Trường có STEM (đây là cấp độ 3, STEM được triển khai như một môn học phụ); 4) Trường có các câu lạc bộ liên quan đến STEM (đây là cấp độ thấp nhất, thường là những trường có những câu lạc bộ như robotic, coding…).  Chính vì sự phổ biến của giáo dục STEM, nên Hoa Kỳ có ngày STEM toàn quốc, ngày 8/11.

(Nguồn: ThS Đinh Thu Hồng; Tạp chí Khoa học và Công nghệ)

Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:

Nồng độ vitamin D trong máu có thể dự báo tình trạng sức khỏe tương lai và nguy cơ mắc bệnh tiểu đường type 2

Nồng độ vitamin D trong máu có thể dự báo nguy cơ sức khỏe

1. Tình trạng thiếu vitamin D phổ biến ở người cao tuổi, đặc biệt là ở châu Âu. Các nhà khoa học đã chứng minh rằng, thiếu hụt vitamin D có thể là nguyên nhân gây ra các bệnh như bệnh tim mạch, ung thư và loãng xương. Trong cơ thể con người có một số dạng hoặc chất chuyển hóa từ vitamin D. Tổng lượng chất chuyển hóa này thường được sử dụng để đánh giá tình trạng vitamin D của mỗi người, ví dụ như Prohormone, 25-dihydroxyvitamin D được chuyển đổi thành 1,25-dihydroxyvitamin D, đây được coi là dạng hoạt động của vitamin D trong cơ thể chúng ta. Hơn 99% các chất chuyển hóa vitamin D trong máu của chúng ta liên kết với protein, chỉ một phần rất nhỏ là tự do hoạt động sinh học.

2. Tiến sĩ Leen Antonio ở Bệnh viện Đại học KU Leuven (Bỉ) và cộng sự đã nghiên cứu xem liệu các chất chuyển hóa tự do của vitamin D có phải là những yếu tố dự báo sức khỏe hay không bằng cách sử dụng dữ liệu từ dự án Nghiên cứu Lão hóa Nam giới châu Âu, được thu thập từ 1.970 nam giới trong độ tuổi từ 40-79 từ năm 2003 đến 2005 cho thấy, tổng mức của các chất chuyển hóa vitamin D tự do và liên kết đều có liên quan đến nguy cơ tử vong.

Cũng theo tiến sĩ Antonio, hầu hết các nghiên cứu đều tập trung vào mối liên hệ giữa tổng mức 25-hydroxyvitamin D với bệnh tật và tỷ lệ tử vong ở người. Dữ liệu thu thập được cho thấy, cả mức 25-hydroxyvitamin D tự do và toàn phần đều là thước đo về nguy cơ sức khỏe trong tương lai ở nam giới.

Dự báo nguy cơ mắc bệnh tiểu đường type 2

3. Theo các nhà nghiên cứu tại Trường Y tế Công cộng Đại học Harvard (HSPH), lượng vitamin D đầy đủ trong thời kỳ thiếu niên có thể làm giảm nguy cơ mắc bệnh tiểu đường type 2 khi trưởng thành lên tới 50%. Nếu được xác nhận trong các nghiên cứu tiếp theo, phát hiện này có thể khẳng định vai trò của việc bổ sung vitamin D trong việc ngăn ngừa bệnh tự miễn dịch nghiêm trọng ở người lớn. Kassandra Munger, một cộng sự nghiên cứu tại Khoa dinh dưỡng tại HSPH cho biết: “Thật ngạc nhiên khi một căn bệnh nghiêm trọng như bệnh tiểu đường type 2 có thể được ngăn ngừa bằng một biện pháp can thiệp đơn giản và an toàn”.

4. Các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào mối liên hệ giữa sự thiếu hụt vitamin trong thời kỳ mang thai hoặc thời thơ ấu và nguy cơ phát triển bệnh trong thời thơ ấu. Một nghiên cứu khác ở những người trưởng thành trẻ tuổi đã phát hiện ra mối liên quan giữa mức độ cao của vitamin D và giảm nguy cơ mắc bệnh đa xơ cứng (một bệnh tự miễn dịch liên quan đến di truyền và dịch tễ học của bệnh tiểu đường type 2). Như vậy, không đủ vitamin D ở tuổi trưởng thành có thể là một yếu tố nguy cơ quan trọng đối với các bệnh tự miễn dịch nói chung.

5. Tiến sĩ Antonio giải thích, “những dữ liệu này khẳng định thêm rằng sự thiếu hụt vitamin D có liên quan đến tác động tiêu cực đến sức khỏe nói chung và có thể dự báo nguy cơ tử vong cao hơn”. Trong bệnh tiểu đường type 2 (từng được gọi là bệnh tiểu đường khởi phát vị thành niên hoặc bệnh tiểu đường phụ thuộc insulin), hệ thống miễn dịch của cơ thể tấn công và vô hiệu hóa vĩnh viễn các tế bào tạo ra insulin trong tuyến tụy.

6. Theo Hiệp hội Đái tháo đường Hoa Kỳ, khoảng 5% trong số 25,8 triệu người ở Hoa Kỳ mắc bệnh tiểu đường type 2, khoảng 60% trường hợp tiểu đường type 2 xảy ra sau 20 tuổi. Các nhà khoa học đã thực hiện một nghiên cứu kiểm soát đối với các quân nhân Hoa Kỳ đang tại ngũ, sử dụng mẫu máu từ Kho lưu trữ Huyết thanh của Bộ Quốc phòng, nơi lưu trữ hơn 40 triệu mẫu được thu thập từ 8 triệu quân nhân và phụ nữ. Kết quả ghi nhận có 310 người mắc bệnh tiểu đường type 2 trong khoảng thời gian từ năm 1997 đến 2009. Nhóm nghiên cứu đã so sánh các mẫu máu được lấy trước khi bệnh khởi phát với mẫu của 613 người trong nhóm đối chứng. Họ phát hiện ra rằng, những thanh niên da trắng khỏe mạnh có nồng độ vitamin D trong huyết thanh cao (hơn 75 nmol/L) sẽ giảm khoảng một nửa nguy cơ phát triển bệnh tiểu đường type 2 so với những người có mức vitamin D thấp (dưới 75 nmol/L).

7. Theo Giáo sư Alberto Ascherio, tác giả chính của nghiên cứu nêu trên, “nguy cơ mắc bệnh tiểu đường type 2 dường như tăng lên ngay cả ở mức vitamin D được coi là bình thường, điều đó cho thấy một tỷ lệ đáng kể dân số có thể phòng tránh được bệnh nếu bổ sung đủ lượng vitamin D”.

Ước tính có khoảng 1 tỷ người trên thế giới có hàm lượng vitamin D trong máu không đủ và sự thiếu hụt có thể gặp ở mọi sắc tộc và lứa tuổi. Mặc dù tiếp xúc với ánh nắng mặt trời là một nguồn cung cấp vitamin D tuyệt vời, nhưng kem chống nắng, quần áo, sắc tố da và mức độ bức xạ tia cực tím thấp hơn trong những tháng mùa đông cản trở quá trình sản xuất của nó. Do vậy cần bổ sung các thực phẩm có nguồn vitamin D dồi dào, chẳng hạn như cá hồi và sữa. Theo Bệnh viện Mayo Clinic ở Hoa Kỳ, mức cho phép hàng ngày được khuyến nghị là 600-800 IU mỗi ngày.

(Nguồn: ThS Nguyễn Tuấn; Tạp chí Khoa học và Công nghệ)

Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:

Biến đổi khí hậu dưới góc nhìn khoa học

1. Khí thải CO2 chủ yếu bắt nguồn từ hoạt động của con người đang đặt ra thách thức toàn cầu trong cuộc chiến chống biến đổi khí hậu.

Trọng tâm chính trong các cuộc đàm phán tại hội nghị thượng đỉnh COP26 đang diễn ra ở Glasgow xoay quanh carbon dioxide (CO2), loại khí gây hiệu ứng nhà kính được thải ra khi con người đốt cháy nhiên liệu hóa thạch như than, dầu và khí tự nhiên, bên cạnh các yếu tố như cháy rừng và sử dụng đất.

Cuộc cách mạng công nghiệp vào cuối những năm 1800 bắt đầu thúc đẩy việc đốt nhiên liệu hóa thạch. Nó cung cấp năng lượng quan trọng cho các ngành công nghiệp nhưng cũng làm tăng đáng kể lượng khí thải CO2 ngay trong thế kỷ đó. Các phép đo có hệ thống từ giữa những năm 1900 đã cho thấy sự gia tăng ổn định của CO2 trong bầu khí quyển, với phần lớn là dấu vết trực tiếp từ quá trình đốt cháy nhiên liệu hóa thạch.

2. Vì sao CO2 gây biến đổi khí hậu?

Khi thải vào khí quyển, CO2 có xu hướng tích tụ trong một thời gian rất dài. Chỉ một nửa được hấp thụ bởi thực vật và đại dương, nửa còn lại có thể tồn tại hàng trăm năm trong bầu khí quyển, gây hiệu ứng nhà kính.

Sau đây là cách hiệu ứng nhà kính hoạt động. Mặt Trời của chúng ta gửi rất nhiều năng lượng đến Trái Đất. Trái Đất hấp thụ năng lượng đó và phát ra bức xạ hồng ngoại truyền ngược ra ngoài không gian. CO2 tích tụ trong bầu khí quyển khiến một phần bức xạ bị mắc kẹt, làm hành tinh của chúng ta nóng lên. Mật độ CO2 càng cao, nhiệt độ toàn cầu càng tăng mạnh. Mật độ CO2 trong khí quyển hiện nay đạt khoảng 414 ppm, cao gần gấp rưỡi so với mức 280 ppm vào thời kỳ tiền công nghiệp.

3. Năm 2020, khi ít người lái xe hơn và một số ngành công nghiệp phải ngừng hoạt động trong thời gian ngắn vì đại dịch, lượng khí thải CO2 từ nhiên liệu hóa thạch đã giảm khoảng 6%, nhưng điều đó không ngăn được sự gia tăng mật độ CO2 trong khí quyển, vì lượng thải ra do các hoạt động của con người vượt xa những gì tự nhiên có thể hấp thụ.

Kể cả khi thế giới dừng tất cả các hoạt động thải CO2, phải mất hàng trăm năm nữa để mật độ CO2 trong khí quyển giảm "một cách tự nhiên" về ngưỡng mà chu trình carbon của hành tinh có thể trở lại trạng thái cân bằng.

4. Nhiệt độ đã gia tăng như thế nào tại các lục địa?

Không có gì bất ngờ khi thế giới ghi nhận sự gia tăng nhiệt độ trên mọi lục địa và các đại dương. Tuy nhiên, mức tăng không giống nhau ở những nơi khác nhau vì có nhiều yếu tố tác động đến nhiệt độ địa phương, như việc sử dụng đất (ảnh hưởng đến mức năng lượng mặt trời được hấp thụ và phản xạ), hay các nguồn làm nóng cục bộ như đảo nhiệt đô thị và ô nhiễm.

5. Ví dụ, Bắc Cực đang ấm lên nhanh hơn khoảng ba lần so với mức trung bình toàn cầu, một phần vì khi hành tinh nóng lên, băng tuyết tan chảy khiến bề mặt có nhiều khả năng hấp thụ năng lượng hơn là phản xạ bức xạ mặt trời.

Biến đổi khí hậu có tác động như thế nào tới hành tinh?

Hệ thống khí hậu của Trái Đất liên kết với nhau rất phức tạp, vì vậy ngay cả những thay đổi nhiệt độ nhỏ cũng có thể gây ra tác động lớn, điển hình là hiện tượng băng tan và nước biển dâng.

Các nghiên cứu đã cho thấy nhiệt độ tăng ảnh hưởng đến lượng mưa, sông băng, hình thái thời tiết, hoạt động của xoáy thuận nhiệt đới và bão lớn. Các đợt nắng nóng cũng gia tăng cả về tần suất, thời gian và mức độ nghiêm trọng, ảnh hưởng đến hệ sinh thái, đời sống con người, thương mại và nông nghiệp.

Hầu hết các ghi chép về mực nước biển đều cho thấy sự gia tăng nhất quán trong 150 năm qua do băng tan và đại dương giãn nở. Nước biển dâng cao càng làm trầm trọng thêm tình trạng ngập lụt ven biển.

Các nhà khoa học khí hậu đang làm việc chăm chỉ để dự đoán những tác động trong tương lai gây ra bởi sự gia tăng khí thải CO2 và những thay đổi dự kiến khác, chẳng hạn như dân số thế giới. Rõ ràng là nhiệt độ sẽ tăng và lượng mưa sẽ thay đổi. Mức độ cụ thể như thế nào còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố tương tác.

 

6. Một vài lý do để hy vọng

Một điều tích cực là các nghiên cứu khoa học đang không ngừng nâng cao hiểu biết của chúng ta về khí hậu và hệ thống phức tạp của Trái Đất, qua đó giúp xác định những khu vực dễ bị tổn thương nhất và đưa ra chỉ dẫn để giảm thiểu các tác nhân gây biến đổi khí hậu.

Nghiên cứu về năng lượng tái tạo và năng lượng thay thế, cũng như các giải pháp thu giữ carbon từ không khí, đang tạo ra nhiều lựa chọn hơn cho một xã hội được chuẩn bị tốt hơn.

Đồng thời, khi nhận thức của cá nhân được nâng cao, nhiều người bắt đầu tìm cách giảm tác động của chính mình. Thị trường xe điện, cũng như năng lượng mặt trời và năng lượng gió, đang tăng với tốc độ không tưởng. Ngày càng có nhiều người sẵn sàng áp dụng các chiến lược mới để sử dụng năng lượng hiệu quả và tiêu thụ bền vững hơn.

Các nhà khoa học tin rằng việc chuyển đổi nhiên liệu hóa thạch sang năng lượng tái tạo chính là chìa khóa để chống lại biến đổi khí hậu, mang đến những lợi ích trực tiếp đối với sức khỏe con người và hệ sinh thái.

(Nguồn: Theo Conversation; Đoàn Dương, Vnexpress)

Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi bên dưới:

Rác thải nhựa: Thực trạng báo động và thông điệp 4T

Chi phí đắt đỏ

1. Theo báo cáo “Nhựa: chi phí đối với xã hội, môi trường và nền kinh tế” năm 2021 của WWF thì chi phí xã hội, môi trường và nền kinh tế đối với nhựa được sản xuất trong năm 2019 là 3.700 tỷ USD, cao hơn GDP của Ấn Độ. Nếu không có hành động cấp thiết nào được triển khai, các khoản chi phí này sẽ tăng lên gấp đôi vào năm 2040, tương đương với 85% chi tiêu toàn cầu cho y tế trong năm 2018, cao hơn GDP của Đức, Canada và Úc năm 2019 cộng lại. Báo cáo của WWF cũng cho thấy, Chính phủ và người dân các quốc gia đang “vô tình” sa lầy vào một hệ thống sản xuất, tiêu dùng và xử lý nhựa gây ra vô số tác động tiêu cực đến con người và môi trường.

2. Các nghiên cứu cho thấy, chi phí đối với xã hội, môi trường và nền kinh tế cao hơn ít nhất 10 lần so với giá thị trường của nhựa nguyên sinh và cách tiếp cận hiện nay để giải quyết cuộc khủng hoảng nhựa đang gặp thất bại. Các cộng đồng yếu thế trong xã hội đang phải gánh chịu chi phí không cân xứng theo vòng đời của nhựa và biến đổi khí hậu, trong đó vòng đời nhựa đang góp phần gây ra những ảnh hưởng bất bình đẳng đến các cộng đồng này. Chi phí xã hội có thể định lượng được của nhựa hiện nay là đáng kể, tuy nhiên đây có thể chỉ là phần nổi của tảng băng chìm. Đặc biệt, chi phí từ các tác động đã được biết đến và tác động tiềm ẩn đối với sức khoẻ con người cũng như tác động đến các hệ sinh thái trên cạn vẫn chưa được định lượng hoặc vẫn còn khó xác định tại thời điểm này.

3. Thực tế cho thấy, các tiếp cận quản lý rời rạc, các biện pháp khuyến khích chưa phù hợp, hạn chế trong phối hợp năng lực kỹ thuật, thiếu các hỗ trợ tài chính… đang khiến Trái đất chịu nhiều tổn thương. Giới hạn về nhận thức và hiểu biết, cũng như bù đắp các khoản chi phí thực tế của nhựa sẽ còn tiêu tốn nhiều hơn trong tương lai. Theo một kịch bản phát triển thông thường, ước tính sản lượng nhựa sẽ tăng gấp đôi vào năm 2040 và lượng rác thải nhựa thất thoát ra đại dương sẽ tăng gấp 3 lần với 29 triệu tấn, nâng tổng khối lượng rác nhựa trong đại dương lên tới 600 triệu tấn. Phát thải khí nhà kính xuyên suốt vòng đời của nhựa sẽ chiếm tới 20% toàn bộ lượng các bon trên toàn cầu.

4. Nhằm giải quyết cuộc khủng hoảng này một cách hệ thống và giảm thiểu chi phí xã hội của nhựa, WWF đang kêu gọi chính phủ các quốc gia bắt đầu đàm phán một hiệp ước toàn cầu mang tính ràng buộc về pháp lý đối với vấn đề ô nhiễm nhựa đại dương tại kỳ họp lần thứ 5 của Đại Hội đồng môi trường Liên hợp quốc vào tháng 2/2022. Những số liệu mới được công bố từ các cuộc thảo luận diễn ra tại Hội nghị Bảo tồn thế giới (IUCN) nhấn mạnh tầm quan trọng của một giải pháp toàn cầu để giải quyết cuộc khủng hoảng ô nhiễm nhựa, nhằm ứng phó một mối lo ngại đang leo thang về sự thiếu phối hợp toàn cầu trong các hành động về nhựa. Cho đến nay, hơn hai triệu người đã ký vào bản kiến nghị và hơn 75 doanh nghiệp đã tán thành lời kêu gọi thiết lập một hiệp ước toàn cầu về ô nhiễm nhựa đại dương. Đa số các quốc gia thành viên Liên hợp quốc (119 quốc gia) đã ủng hộ rõ ràng việc thiết lập một thoả thuận toàn cầu mới nhằm giải quyết vấn đề ô nhiễm nhựa.

Ô nhiễm rác thải nhựa và nhận thức của người tiêu dùng Việt Nam

5. Ô nhiễm nhựa đang là một mối nguy ảnh hưởng đến môi trường sống tự nhiên của hầu hết các loài. Theo số liệu thống kê của Ngân hàng Thế giới, chỉ riêng trong năm 2018, Việt Nam đã thải ra trên 31 triệu tấn rác thải sinh hoạt và gần 5 triệu tấn rác thải nhựa. Nhựa chiếm đến 64% tỷ lệ vật liệu dùng trong ngành bao gói và dự kiến sẽ tiếp tục tăng lên. Trong khi đó, chỉ khoảng 14% lượng rác thải nhựa được thu gom chủ yếu bởi những người nhặt rác (ve chai, đồng nát) và tái chế bởi các doanh nghiệp nhỏ. Rác thải nhựa làm tăng phát thải khí nhà kính, thúc đẩy gia tăng tác động tiêu cực đến biến đổi khí hậu, đe dọa sự tồn tại của các sinh vật biển, tăng tốc độ suy thoái của các quần thể san hô và ảnh hưởng đến hệ thống vi sinh vật đại dương. Đặc biệt, hạt vi nhựa phân rã ra tự nhiên có mặt trong nước, hải sản, không khí và có thể hấp thụ vào cơ thể con người qua đường ăn uống, hô hấp, để lại những tác hại tiềm ẩn khó lường đối với sức khỏe.

6. Nhựa là loại vật liệu đóng góp rất nhiều trong việc cải thiện và thay đổi đời sống của con người. Tuy nhiên, nó cũng tiềm ẩn nhiều vấn đề, nhiều hệ lụy nặng nề cho môi trường và sức khỏe khi không được sử dụng đúng cách và xử lý hiệu quả ở cuối vòng đời. Rác thải nhựa cần tới hàng trăm năm để phân hủy và chúng phân rã thành các hạt vi nhựa, gây ô nhiễm đất, nước, không khí, cũng như đe dọa đến hệ sinh thái biển.

Khi tiêu thụ hải sản, sử dụng nguồn nước hoặc hít thở không khí có chứa hạt vi nhựa, sức khỏe của con người có thể bị ảnh hưởng. Ngoài việc đe dọa các nguồn tài nguyên biển và đa dạng sinh học các khu vực ven biển, ô nhiễm rác thải nhựa còn gây ảnh hưởng nặng nề đến sinh kế của người dân vùng biển và các ngành kinh tế như du lịch, vận tải biển, các phương tiện đánh cá, khai thác và nuôi trồng thủy sản. Việt Nam hiện thuộc nhóm các quốc gia có lượng xả thải rác nhựa ra biển nhiều nhất trên thế giới, trung bình mỗi ngày lượng rác nhựa thải ra môi trường khoảng 2.500 tấn, trong đó khối lượng rác nhựa thải ra biển dao động trong khoảng 0,28-0,73 triệu tấn/năm.

7. Theo báo cáo “Nghiên cứu hành vi người tiêu dùng nhựa sử dụng một lần” năm 2020 thuộc phạm vi dự án “Giảm thiểu rác thải nhựa đại dương tại Việt Nam” được W WF - Việt Nam tiến hành thì việc sử dụng nhựa dùng một lần là một hành vi rất phổ biến. Mặc dù mức độ nhận thức của người dân về tác hại của rác nhựa đã được nâng cao trong thời gian qua, nhưng thói quen sử dụng nhựa dùng một lần chưa có dấu hiệu thay đổi theo hướng tích cực một cách rõ ràng. Trong mua sắm cá nhân, người bán và người mua vẫn giữ thói quen thường xuyên dùng túi ni-lông để đựng đồ, dùng cốc nhựa, chai nhựa, ống hút nhựa với đồ uống, kèm thìa, dĩa nhựa trong những phần ăn mang đi… Nhiều người tiêu dùng mong muốn hạn chế sản phẩm nhựa dùng một lần, nhưng người bán mặc định cung cấp sẵn. Ngược lại, nhiều người bán muốn hạn chế túi ni-lông, ống hút, thìa dĩa nhựa…, nhưng lo ngại việc khách hàng sẽ không hài lòng về dịch vụ.

8. Cũng theo báo cáo trên, chỉ có 9,6% những người được hỏi đã trả lời đúng về phân biệt các loại nhựa và 23,1% trả lời đúng về cách sử dụng đồ nhựa sử dụng một lần. Còn có khá nhiều người không nghĩ đến các tác hại của rác thải nhựa, nhựa dùng một lần đối với môi trường tự nhiên. Tuy nhiên, 27,3% người tiêu dùng đã nhận thức và hiểu đúng về mối nguy hại khi thường xuyên đựng thực phẩm bằng nhựa sử dụng một lần. Về trách nhiệm đối với rác thải nhựa, Báo cáo cũng chỉ ra, chỉ có khoảng 22% những người được hỏi cho rằng “chính tôi cần giảm thiểu rác thải nhựa”, phần lớn người tiêu dùng (43%) cho rằng trách nhiệm này thuộc về xã hội, 35% người được hỏi cho rằng việc sử dụng nhựa dùng một lần là nhu cầu xã hội nên khó thay đổi được.

9. So với những người xem nhựa dùng một lần là nhu cầu của xã hội nên khó giảm thiểu, thì những người đề cao trách nhiệm của bản thân trong việc giảm thiểu rác nhựa có khả năng thực hành các hành vi tích cực nhiều hơn gấp 1,5 lần. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, yếu tố chuẩn mực cộng đồng tác động đến hành vi dự định thực hiện. Những người tiêu dùng nhiều khả năng sẽ tăng thực hiện các hành vi tích cực nếu họ thường xuyên bắt gặp người bán gợi ý khách hàng nên hạn chế sử dụng nhựa dùng một lần. Người tiêu dùng và cả các doanh nghiệp đều có mong muốn giảm rác nhựa, nhưng thói quen đưa sẵn nhựa dùng một lần kèm theo sản phẩm còn đang rất phổ biến, trong khi các lựa chọn thay thế còn nhiều hạn chế. Hơn nữa, có một sự “lệch pha” giữa tâm lý người bán hàng và người tiêu dùng: trong khi người tiêu dùng sẵn sàng trả thêm một khoản chi phí nhất định để được sử dụng bao bì thân thiện với môi trường hơn, thì các doanh nghiệp lại rất e ngại khi phải tính thêm chi phí cho khách hàng.

10. Thông điệp 4T của WWF - Việt Nam

Trong chiến dịch truyền thông về rác thải nhựa mà WWF - Việt Nam phát động mới đây, các thông điệp được triển khai theo một cách thức tiếp cận mới, thông qua các chất liệu văn hóa dân gian, cụ thể: 1) Các bức tranh cổ động mang phong cách truyền thống, với nội dung mở nhằm cổ vũ sự sáng tạo và chủ động của người tiêu dùng đối với vấn đề giảm thiểu rác nhựa; 2) “Chế” tục ngữ ca dao vui nhộn để thúc đẩy người tiêu dùng thực hành giảm rác nhựa trong sinh hoạt hàng ngày; 3) Lan tỏa một bản Rap được sáng tác từ chính những câu tục ngữ ca dao do người tiêu dùng trẻ sáng tạo ra; 4) Đặt lời mới trên nền các làn điệu âm nhạc truyền thống như cải lương, bài chòi với thông điệp truyền thông giảm rác nhựa được thể hiện gần gũi, thân thuộc với người tiêu dùng. Nhờ khai thác các chất liệu dân gian quen thuộc, chủ đề giảm rác thải nhựa trở nên gần gũi hơn, kết nối được các giá trị văn hóa truyền thống với tri thức hiện đại, thúc đẩy mọi người ý thức được việc mình có thể góp phần quyết định sự trong sạch, bền vững của môi trường xung quanh.

11. Chiến dịch truyền thông nâng cao trách nhiệm và sức mạnh của người tiêu dùng đối với việc giảm thiểu rác thải nhựa nhấn mạnh thông điệp 4T trong việc tuyên truyền giảm rác nhựa trong tiêu dùng, sinh hoạt:

Một là “Từ chối”: khuyến khích áp dụng trong trường hợp các sản phẩm, đặc biệt là nhựa dùng một lần được phân phát miễn phí và rộng rãi, ví dụ như túi ni - lông khi đi mua sắm hoặc ống hút nhựa khi mua đồ uống. Để tăng tính thuyết phục, bạn có thể nói với nhân viên cửa hàng rằng mình sẽ từ chối nhận sản phẩm đó nếu nó đi kèm nhựa dùng một lần.

Hai là “Tiết giảm”: cân nhắc lại lối sống của chính mình, xem xét những nhu cầu nào là thiết yếu và những nhu cầu nào có thể cắt giảm. Trước khi mua sắm, hãy suy nghĩ lại về nhu cầu: liệu mình có thực sự cần món đồ này không? Hạn chế sử dụng sản phẩm nhựa dùng một lần nếu có thể; ưu tiên lựa chọn bao bì thân thiện với môi trường khi đi mua sắm.

Ba là “Tái sử dụng”: cố gắng sử dụng lặp đi lặp lại một món đồ hoặc sản phẩm càng nhiều lần càng tốt, giúp tối đa hóa chức năng và giá trị của sản phẩm trong vòng đời, tăng hiệu quả sử dụng và giảm chi phí cho mỗi lần sử dụng. Với những đồ nhựa đã qua sử dụng nhưng vẫn có thể dùng lại được như chai, hộp, túi ni-lông đi chợ…, hãy vệ sinh sạch sẽ và giữ lại để tiếp tục sử dụng cho lần sau hoặc những mục đích khác.

Bốn là “Tái chế”: trao cho đồ vật đã qua sử dụng một công năng mới, ví dụ biến bình nước thành lọ hoa, chậu nhựa hỏng thành bồn cây, chai nước suối thành đồ chơi cho trẻ… Nên thu gom rác sau mỗi lần đi chơi, đi biển, picnic… và phân loại rác tại gia đình thành 3 loại: chất thải có khả năng tái chế; chất thải độc hại (pin, bóng đèn…); và chất thải khác, nhằm hỗ trợ cải thiện hệ thống thu gom và tái chế rác. 

Tái chế rác thải nhựa là một trong những thông điệp quan trọng của WWF - Việt Nam (ảnh WWF).

12. Qua thực tế hoạt động từ Chương trình Giảm nhựa của WWF - Việt Nam trong thời gian qua cho thấy, nâng cao nhận thức của người dân về ô nhiễm nhựa chỉ là điều kiện cần nhưng chưa đủ để tạo nên những thay đổi tích cực đáng kể đối với vấn đề này. Thói quen sử dụng nhựa một lần vẫn chưa có dấu hiệu suy giảm rõ ràng, khả năng thay đổi các hành vi tiêu dùng nhằm phòng ngừa ô nhiễm nhựa trong xã hội còn chưa như kỳ vọng. Thông qua chiến dịch truyền thông này, WWF - Việt Nam hy vọng sẽ góp phần giúp người tiêu dùng, đặc biệt là người tiêu dùng trẻ tuổi hiểu rõ hơn về ô nhiễm rác nhựa, về vai trò cũng như sức mạnh của người tiêu dùng trong việc thay đổi hiện trạng ô nhiễm rác thải nhựa và tạo ra xu hướng giảm nhựa từ chính các doanh nghiệp cung cấp sản phẩm và dịch vụ mà họ sử dụng, gắn với những giá trị mới như là người tiêu dùng văn minh, có trách nhiệm xã hội, đặc biệt là trách nhiệm với tương lai.

(Nguồn: Vũ Văn Hưng; Tạp chí Khoa học và Công nghệ)

Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:

Làm chủ quy trình công nghệ Bioreactor sản xuất rễ tóc sâm Ngọc Linh

Thông qua việc thực hiện nhiệm vụ thuộc Dự án “Đẩy mạnh đổi mới sáng tạo thông qua nghiên cứu, khoa học và công nghệ - FIRST” do Bộ Khoa học và Công nghệ tài trợ, các nhà khoa học thuộc Trung tâm Công nghệ sinh học TP Hồ Chí Minh (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn TP Hồ Chí Minh) đã làm chủ quy trình công nghệ Bioreactor sản xuất rễ tóc sâm Ngọc Linh (Panax vietnamensis Ha et Grushv.) và thương mại hóa thành công sản phẩm, góp phần chủ động nguồn nguyên liệu đáp ứng nhu cầu mở rộng sản xuất theo hướng công nghiệp.

Loài sâm quý cần bảo tồn và phát triển

Sâm Ngọc Linh (còn gọi là sâm Việt Nam) có tên khoa học là Panax vietnamensis Ha et Grushv., thuộc chi Nhân sâm - Panax, họ Ngũ Gia Bì - Araliaceae. Sâm mọc tập trung ở vùng núi Ngọc Linh (thuộc địa phận 2 tỉnh Quảng Nam và Kon Tum) và là 1 trong 4 loại sâm quý của đất nước.

Nhiều nghiên cứu cho thấy, sâm Ngọc Linh không chỉ chứa nhiều saponin chính (G-Rb1, G-Rb2,    G-Rb3, G-Rc, G-Rd, G-Re, G-Rg1…) giống như trong sâm Triều Tiên, mà còn chứa thêm các saponin khung Dammaran có cấu trúc Ocotillol chưa tìm thấy ở sâm Triều Tiên. Kết quả nghiên cứu thân - rễ của sâm Ngọc Linh cho thấy, có hơn 52 hoạt chất saponin (Gingsenoside), trong đó có 26 hợp chất có cấu trúc hoá học đã biết và 26 saponin có cấu trúc mới không có trong các loại nhân sâm khác được đặt tên là Vina-ginsenoside-R1-R24. Đặc biệt, sâm Ngọc Linh chứa chất Majonoside-R2 - là saponin nhóm Ocotillol chiếm hơn nửa tổng hàm lượng saponin của sâm Ngọc Linh và là nhóm chất có tác dụng quyết định đến chất lượng loài sâm Việt. Ngoài thành phần saponin, sâm Ngọc Linh còn chứa 17 thành phần acid béo, 18 acid amin, 20 nguyên tố vi lượng và các hợp chất sterol, cụ thể là β-sitosterol và daucosterin (β-sitosteryl-3-O-β- D-glucopyranosid). Trong củ và rễ sâm còn chứa các hợp chất glucid như đường tự do, đường toàn phần, tinh dầu, vitamin C…

Những kết quả nghiên cứu dược lý thực nghiệm sâm Ngọc Linh đã chứng minh, sâm Ngọc Linh có tác dụng chống stress, kích thích hệ miễn dịch, chống ôxy hóa, phòng chống ung thư, bảo vệ tế bào gan... Đặc biệt, sâm Ngọc Linh có một số tính năng mà sâm khác không thể có như tính kháng khuẩn, chống trầm cảm, hiệu lực tốt với thuốc kháng sinh, thuốc điều trị bệnh tiểu đường... Chính vì những đặc tính quý hiếm này, sâm Ngọc Linh đang trở thành đối tượng săn tìm, bị khai thác, mua bán, sử dụng một cách khó kiểm soát.

Những năm gần đây đang nổi lên xu hướng ứng dụng công nghệ nuôi cấy sinh khối tế bào để sản xuất các hợp chất thứ cấp quan trọng trong ngành dược thay thế phương pháp truyền thống chiết xuất từ cây trồng cho hiệu quả thấp, có thể dẫn đến nguy cơ tuyệt chủng một số loài như Taxus brevifolia, Podophyllum hexandrum và gây ảnh hưởng đến hệ sinh thái. Tuy nhiên, việc sản xuất các hoạt chất thứ cấp bằng phương pháp nuôi cấy tế bào vẫn còn một số tồn tại, như dòng tế bào không ổn định, năng suất thấp và cần bổ sung chất dinh dưỡng vào môi trường nuôi cấy… Do vậy, hướng mới để sản xuất các hoạt chất thứ cấp là nuôi cấy rễ tóc.

Làm chủ công nghệ bioreactor sản xuất rễ tóc sâm Ngọc Linh

Ở Việt Nam, Trung tâm Công nghệ sinh học TP Hồ Chí Minh là đơn vị đầu tiên nghiên cứu thành công việc nghiên cứu tạo rễ tóc và phân tích các hợp chất thứ cấp sâm Ngọc Linh trên cơ sở hợp tác với Trường Đại học Picardie Julles Verne (Pháp). Kết quả là đã tạo ra những dòng rễ tái sinh tốt, sinh trưởng mạnh trên môi trường thạch rắn và lỏng lắc. Tuy nhiên, để làm chủ quy trình công nghệ Bioreactor sản xuất rễ tóc sâm Ngọc Linh và thương mại hóa sản phẩm đòi hỏi phải có sự liên kết, phối hợp giữa các nhà nghiên cứu công nghệ sinh học thực vật, hoá hữu cơ, dược và nhà sản xuất, nhà kinh doanh để tạo ra chuỗi khép kín từ khâu sản xuất nguyên liệu đến khâu cung cấp ra thị trường. Chuỗi liên kết này giúp cho kết quả nghiên cứu được ứng dụng vào thực tế sản xuất và thương mại hoá sản phẩm, góp phần kết nối cung - cầu.

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu hoàn thiện công nghệ sản xuất sinh khối rễ tóc sâm Ngọc Linh đã đạt được, năm 2018, Trung tâm Công nghệ sinh học TP Hồ Chí Minh đã đề xuất và được Ban Quản lý Dự án FIRST phê duyệt thực hiện tiểu dự án: “Làm chủ quy trình công nghệ Bioreactor sản xuất rễ tóc sâm Ngọc Linh (Panax vietnamensis Ha et Grushv.) và thương mại hóa sản phẩm” để sản xuất sinh khối rễ tóc sâm Ngọc Linh quy mô công nghiệp, mang lại lợi ích kinh tế và góp phần vào việc chăm sóc sức khỏe con nguời.

Sau 2 năm triển khai thực hiện, dự án đã: 1) Xây dựng thành công quy trình công nghệ nuôi cấy rễ tóc sâm Ngọc Linh ở quy mô công nghiệp trên các Bioreactor 20 lít; 2) Sản xuất được 1.527,4 kg rễ tóc - sinh khối tươi phục vụ sản xuất cao chiết dạng bán thành phẩm làm nguồn nguyên liệu sản xuất nước uống và viên nang, xây dựng tiêu chuẩn nguồn nguyên liệu; 3) Xây dựng thành công quy trình chiết xuất cao chiết bán thành phẩm. Kết quả phân tích, đánh giá tính an toàn và tác động tăng lực của cao chiết rễ tóc Sâm Ngọc Linh đều đạt các chỉ tiêu đối với thuốc có nguồn gốc dược liệu; 4) Bào chế được 30 kg cao chiết bán thành phẩm từ sinh khối rễ tóc sâm Ngọc Linh làm viên nang cứng; 5) Xây dựng thành công quy trình sản xuất thực phẩm chức năng dạng viên nang cứng đạt yêu cầu chất lượng sản phẩm theo quy định; 6) Xây dựng thành công quy trình sản xuất nước uống từ rễ tóc sâm Ngọc Linh; 7) Bào chế và sản xuất được 103.949 viên nang cứng, 11.000 bịch (túi) nước sâm uống; 8) Đăng ký bảo hộ quy trình công nghệ Bioreactor sản xuất rễ tóc sâm Ngọc Linh…

Hiện nay nhu cầu về sâm Ngọc Linh và các sản phẩm từ sâm Ngọc Linh ngày càng tăng, trong khi các phương pháp di thực và trồng sâm Ngọc Linh còn hạn chế, không đủ đáp ứng nhu cầu thị trường. Do vậy, việc nghiên cứu phát triển phương pháp mới để chủ động sản xuất sâm sinh khối là rất cần thiết, góp phần đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng về loại dược liệu quý, đồng thời xây dựng thương hiệu sâm Việt Nam.

Với việc thực hiện thành công dự án nêu trên, Trung tâm Công nghệ sinh học TP Hồ Chí Minh đang hoàn thiện các quy trình sản xuất sinh khối, sản xuất cao chiết bán thành phẩm và các sản phẩm từ rễ tóc sâm Ngọc Linh để cung cấp ra thị trường; đồng thời sẵn sàng chuyển giao độc quyền hoặc từng phần cho các đơn vị đối tác để phát triển sản phẩm, đưa sản phẩm phục vụ sức khỏe con người

(Nguồn: “Làm chủ quy trình công nghệ Bioreactor sản xuất rễ tóc sâm Ngọc Linh”; Lâm Vỹ Nguyên; Khoa học - Công nghệ và Đổi mới sáng tạo; Số 6 năm 2021).

Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong y học

1. Trí tuệ nhân tạo (AI) đang có xu hướng được ứng dụng mạnh mẽ trong y học như: chẩn đoán bệnh; nghiên cứu, phát triển thuốc; tối ưu hóa cho điều trị từng cá nhân; chỉnh sửa gen. Tuy nhiên, dù AI phát triển trong y học đến đâu cũng không thể thay thế hoàn toàn bác sỹ trong quá trình thăm khám và chữa trị, chẳng hạn như AI không thể thực hiện ca phẫu thuật não tự động - nơi mà đôi khi các bác sỹ phẫu thuật phải thay đổi cách tiếp cận của họ ngay khi tổn thương được bộc lộ và nhìn thấy.

Năm 2018, các nhà nghiên cứu tại Bệnh viện Đại học quốc gia Seoul (Hàn Quốc) đã phát triển một thuật toán AI gọi là DLAD (Deep Learning based Automatic Detection) để phân tích hình ảnh chụp X-quang ngực cũng như phát hiện sự phát triển bất thường của tế bào (nguyên nhân gây ra bệnh ung thư). Cùng một hình ảnh phim chụp, kết quả đọc của máy tính sẽ được so sánh với kết quả đọc của nhiều bác sỹ khác nhau và thật ngạc nhiên khi những kết luận từ máy tính là vượt trội hơn so với 17/18 các bác sỹ tham gia đọc phim.

Cũng trong năm 2018, thuật toán thứ hai được phát triển bởi các nhà nghiên cứu tại Google AI Healthcare. Họ tạo ra một thuật toán gọi là LYNA (Lymph Node Assistant) giúp phân tích các mẫu bệnh phẩm nhuộm màu để xác định khối ung thư vú di căn từ hạch bạch huyết. Kết quả rất thú vị khi thuật toán này có thể xác định các vùng khả nghi mà mắt thường của con người không thể phân biệt được trong các mẫu sinh thiết được đưa ra. LYNA thử nghiệm trên hai tập dữ liệu và được chứng minh là phân loại chính xác mẫu là ung thư hay không phải ung thư chính xác lên đến 99%. Hơn nữa, thời gian đọc của LYNA nhanh gấp đôi thời gian đọc bởi các bác sỹ thực hành.

Hai ví dụ trên đã cho thấy tiềm năng vô cùng to lớn của AI trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ con người. Vậy AI trong y học là gì? Và liệu nó có thay thế các bác sỹ trong tương lai? AI trong chăm sóc sức khỏe là một thuật ngữ bao quát được sử dụng để mô tả việc ứng dụng các thuật toán và phần mềm máy tính học được nhằm bắt chước nhận thức của con người trong việc phân tích, chẩn đoán, đưa ra các chỉ dẫn trong quá trình thăm khám, chẩn đoán, điều trị và tiên lượng bệnh. Hiện nay có 4 nhóm lĩnh vực y học mà AI đang được nghiên cứu áp dụng rất mạnh mẽ, chúng bao gồm: chẩn đoán bệnh; nghiên cứu, phát triển thuốc; tối ưu hóa cho điều trị từng cá nhân; chỉnh sửa gen.

2. Chẩn đoán bệnh

Gần đây, AI đã đạt được những tiến bộ to lớn trong việc tự động chẩn đoán bệnh, giúp cho việc chẩn đoán rẻ, nhanh và dễ tiếp cận hơn. Các dữ liệu khổng lồ về hình ảnh bình thường, bệnh lý, các chỉ số cơ thể… sẽ được các nhà khoa học “dán nhãn”, nạp vào máy tính, sắp xếp, xử lý…, từ đó máy tính có thể nhận diện, phân loại rồi đưa ra các chẩn đoán khi chúng tiếp xúc với một dữ liệu nào đó của bệnh nhân. Nó giống như các bạn sinh viên mất trên dưới 10 năm để học y, đi bệnh viện thực hành để nhận diện các mặt bệnh và ghi nhớ rồi sau này ra trường đi làm gặp lại bệnh nhân tương tự thì bộ nhớ đã có để nhận biết. Tuy vậy, máy tính “học” nhanh hơn, “nhớ” chính xác hơn và số lượng dữ liệu nhớ thì gần như bất tận, nên AI giỏi chẩn đoán không kém gì các chuyên gia hàng đầu và nó có thể được sao chép lại trên toàn thế giới một cách nhanh chóng và ít tốn kém.

Với chẩn đoán bệnh, AI rất mạnh trong các nội dung: phát hiện ung thư phổi hoặc đột quỵ dựa trên các phim chụp; đánh giá nguy cơ đột tử do các bệnh tim dựa trên điện tâm đồ và hình ảnh cắt lớp, cộng hưởng từ tim; phân loại tổn thương da trên những hình ảnh da được cung cấp; đánh giá bệnh võng mạc tiểu đường thông qua hình ảnh soi đáy mắt. Ngoài ta, các dự án tham vọng hơn của AI liên quan đến sự kết hợp của nhiều nguồn dữ liệu (cắt lớp, cộng hưởng từ, giải trình gen, dữ liệu bệnh nhân cụ thể…) để đánh giá một căn bệnh hoặc tiên đoán sự tiến triển của nó.

3. Nghiên cứu, phát triển thuốc

Nghiên cứu và phát triển các loại thuốc chữa bệnh là một quá trình vô cùng tốn kém và mất rất nhiều thời gian. Tuy nhiên hiện nay AI đã được sử dụng thành công trong cả 4 giai đoạn chính của quá trình nghiên cứu và phát triển thuốc (đánh giá các đích tác dụng; tìm kiếm được đúng các phân tử thuốc/các thuốc có khả năng liên kết với đích đã chọn; kiểm tra hợp chất mới trong phòng thí nghiệm và trên lâm sàng về độ an toàn, hiệu quả; đạt được sự chấp thuận và đưa thuốc mới tới tay các bác sỹ và bệnh nhân), vì vậy tương lai chúng ta kỳ vọng việc phát triển thuốc sẽ vô cùng nhanh và rẻ hơn nhiều.

4. Tối ưu hoá cho điều trị từng cá nhân

Các bệnh nhân khác nhau đáp ứng với thuốc và phác đồ điều trị khác nhau, vì thế cá nhân hóa điều trị có tiềm năng to lớn để tăng tuổi thọ cho bệnh nhân. Tuy nhiên, rất khó để xác định những yếu tố nào sẽ ảnh hưởng đến việc lựa chọn phương pháp điều trị và hiện nay vấn đề này đang được giải quyết bởi AI. AI có thể tự động hóa công việc thống kê hết sức phức tạp này và giúp khám phá những đặc điểm chỉ ra rằng bệnh nhân sẽ có phản ứng cụ thể với một phương pháp điều trị cụ thể nào, từ đó đưa ra được phác đồ điều trị tối ưu với từng bệnh nhân riêng biệt.

5. Chỉnh sửa gen

Các nhà khoa học đang nghiên cứu ứng dụng hệ thống CRISPR-Cas9* để chỉnh sửa gen, đây là một bước tiến lớn trong khả năng chỉnh sửa DNA một cách hiệu quả và chính xác. Kỹ thuật này dựa vào các RNA dẫn đường ngắn (sgRNA) để nhắm mục tiêu và chỉnh sửa một vị trí cụ thể trên DNA. Nhưng RNA dẫn đường có thể phù hợp với nhiều vị trí DNA, dẫn đến có thể có các tác dụng phụ không mong muốn. Do vậy, việc lựa chọn cẩn thận RNA dẫn đường với ít tác dụng phụ nguy hiểm nhất là một bài toán cần giải quyết trong việc áp dụng hệ thống CRISPR để can thiệp vào hệ thống gen và AI sẽ là một lựa chọn hợp lý.

Cho đến nay, AI trong y học đã cho thấy nhiều lợi ích tiềm năng. Cơ quan Quản lý thực phẩm - dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) cũng đã phê duyệt một số thuật toán hỗ trợ trong thăm dò chẩn đoán y khoa. Tuy nhiên, để FDA có thể đánh giá chi tiết các quy trình - thuật toán này và cấp phép cho các công nghệ AI khác vào y học sẽ còn là một con đường dài phía trước vì có thể sự giải trình các thuật toán (để thuyết phục FDA cũng như các cơ quan chức năng khác) nhiều khi là bí mật của từng cty cũng như liên quan đến sự độc quyền. Hơn nữa, những người tạo ra các thuật toán không phải lúc nào cũng là bác sỹ điều trị bệnh nhân, do đó trong một số trường hợp, các nhà khoa học về AI có thể cần phải tìm hiểu thêm về y học. Ở chiều ngược lại, các bác sỹ lâm sàng cũng cần tìm hiểu thêm về các thuật toán của AI để các ứng dụng được tối ưu hoá. Có thể khẳng định, dù AI phát triển trong y học đến đâu cũng không thể thay thế hoàn toàn bác sỹ trong quá trình thăm khám và chữa trị, chẳng hạn như AI không thể thực hiện ca phẫu thuật não tự động - nơi mà đôi khi các bác sỹ phẫu thuật phải thay đổi cách tiếp cận của họ ngay khi tổn thương được bộc lộ và nhìn thấy.

(Nguồn: Tạp chí khoa học và công nghệ)

Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:

1. Bồ hòn có chứa saponin, một chất tẩy rửa tự nhiên có khả năng giúp bạn làm sạch quần áo, vệ sinh nhà cửa và cả cơ thể khi tắm. Bạn có thể mua bồ hòn với mức giá không quá đắt nhưng có thể sử dụng cho hầu hết các hoạt động sinh hoạt thường ngày. Những bí quyết này sẽ giúp bạn tiết kiệm chi phí dùng để mua sữa tắm và cách chất tẩy rửa khác trên thị trường.

2. Quả bồ hòn là gì?

Bồ hòn là quả của cây bồ hòn, còn gọi là bòn hòn, co hón, mác hón,… tên khoa học là Sapindus mukorossi Gaertn, thuộc họ Sapindaceae. Dân gian có câu: “Ngậm bồ hòn làm ngọt”, ý chỉ đây là loại quả siêu đắng, người ngậm bồ hòn có tính cam chịu rất giỏi.

Bòn hòn là loại cây to, thân gỗ có độ cao trung bình khoảng 5-10m, có cây cao đến 13m. Lá là lá kép, lá dẹp, đầu nhọn, mọc xen kẽ nhau các phiến lá được nổi ở cả hai mặt trước và sau. Hoa mọc thành chùm ở cành cây, có màu xanh nhạt và sẽ ra hoa giao động từ tháng 7-9.

Quả có hình cầu, vỏ quả dày, quả sẽ có màu xanh khi còn non và khi chín sẽ chuyển sang màu nâu cam, bên trong có hạt màu nâu đen.

Ngày nay, do nhận thấy chúng có tính tẩy rửa cao, người ta dùng nó làm nước rửa bát, xà phòng, nước giặt quần áo, lau nhà cửa,… thay cho nước tẩy rửa hóa chất. Nước bồ hòn vừa an toàn, vừa không hại da, lại thân thiện với môi trường nên rất được ưa chuộng.

Trong y học, nó còn có công dụng chữa bệnh nhất là các bệnh về cổ họng, các vấn đề liên quan đến răng miệng và các bệnh về da. Bên cạnh việc dùng cho con người, người ta cũng sử dụng lên động vật bằng việc giã nát vỏ cây và pha với nước để tắm cho chúng để trị các bệnh về chấy, rận,… Trung bình quả bồ hòn sẽ sai trái vào tháng 10-12 hằng năm.

Cây Bồ Hòn phân bố rất rộng rãi ở các khu vực Châu Á: Ấn Độ, Malaysia, Sri Lanka. Tuy nhiên, ở Việt Nam, nó được trồng rất nhiều ở Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Thanh Hóa,… bởi vì nó được xem như là loài cây thay thế cho xà phòng.

3. Bộ phận dùng của bồ hòn

Các bộ phận trong cây đều được sử dụng từ quả, vỏ quả cho đến các phiến lá, rễ cây đều được nghiên cứu làm thuốc chữa bệnh hay các dược liệu để dùng hàng ngày. Các quả và hạt của bồ hòn được sử dụng nhiều hơn bằng nhiều phương pháp như phơi khô để làm thuốc chữa bệnh trong Đông y.

4. Thành phần hóa học có trong bồ hòn

Quả bồ hòn có chứa nhiều thành phần saponin chiếm đến 18% saponosid. Trong quả chứa các thành phần như saponosid A, B, C, D, E, E1, X, Y, Y2 đều là những thành phần có dược tính mạnh về bề mặt.

Ngoài các thành phần hóa học trên, bồ hòn còn chứa khoảng 9-10% dầu béo.

5. Công dụng của quả bồ hòn

5.1 Cách sử dụng quả bồ hòn làm nước tắm

Dung dịch bồ hòn dịu nhẹ và phù hợp với hầu hết mọi loại da nên có thể giúp bạn vệ sinh cơ thể rất tốt. Để có thể tận dụng bồ hòn làm nước tắm, bạn cần làm dung dịch bồ hòn theo cách sau:

Bỏ khoảng 25g quả bồ hòn vào 500ml nước. Nếu muốn nếu nhiều dung dịch bồ hòn hơn, bạn có thể tăng lượng nước và bồ hòn theo tỷ lệ 50g bồ hòn : 1 lít nước.

- Đun sôi nước và bồ hòn trong 15 – 20 phút. Bạn nhớ khuấy nước để chất saponin tiết ra nhiều hơn.

- Bỏ thêm một thìa cà phê axit citric với mỗi lít nước.

- Để dung dịch nguội rồi lọc qua để loại bỏ phần cặn của bồ hòn.

Khi đã có được dung dịch bồ hòn, bạn có thể dùng làm nước tắm, nước gội đầu hay nước rửa tay theo hướng dẫn sau đây:

- Trộn đều bột ngô vào dung dịch bồ hòn cho đến khi dung dịch đạt độ đặc bạn muốn.

- Đổ hỗn hợp vào một chai có nắp xịt để dùng khi cần.

Dung dịch bồ hòn là một loại nước tắm tự nhiên nên bạn cần sử dụng nhanh để tránh bị hư. Bạn có thể bảo quản phần dung dịch chưa dùng trong tủ lạnh để sử dụng được lâu hơn.

5.2 Dùng quả bồ hòn dùng để giặt quần áo

Công dụng của quả bồ hòn không chỉ dừng lại ở việc làm sạch da mà còn dùng để làm sạch các loại vải. Bạn có thể tham khảo cách sử dụng bồ hòn để giặt quần áo bằng máy giặt như sau:

- Bỏ 5 quả bồ hòn vào túi vải.

- Bỏ túi bồ hòn cùng đồ dơ vào máy giặt. Quả bồ hòn không có mùi nên nếu muốn quần áo thơm hơn, bạn hãy cho vài giọt tinh dầu vào máy giặt.

- Khởi động máy giặt như bình thường. Bạn có thể để chế độ giặt bằng nước ấm nếu muốn giặt nhiều đồ.

Sau khi giặt xong, bạn lấy túi bồ hòn ra để dùng tiếp những lần sau. Bạn có thể sử dụng một túi bồ hòn để giặt khoảng 4 lần.

Nếu muốn giặt tay đối với các loại vải mỏng nhẹ, bạn cũng có thể sử dụng bồ hòn theo cách sau:

- Bỏ bồ hòn vào một thau nước ấm rồi khuấy nước để chất saponin trong quả tiết ra nhiều hơn.

- Ngâm quần áo vào thau nước rồi bắt đầu giặt.

5.3 Dùng quả bồ hòn để rửa chén bát

Bạn có thể dùng bồ hòn để làm nước rửa chén tự nhiên bảo vệ đôi tay và sức khỏe. Các bước thực hiện như sau:

- Bỏ khoảng 4 quả bồ hòn vào túi vải rồi ngâm túi vào bồn nước ấm.

- Khuấy nước để chất saponin trong bồ hòn tiết ra nhiều hơn.

- Dùng dung dịch này để rửa chén như bình thường.

5.4 Dùng quả bồ hòn làm kem cạo lông

Kem cạo lông từ bồ hòn không chứa hóa chất độc hại mà còn có thể giúp bạn dưỡng ẩm cho làm da. Bạn có thể tham khảo cách sử dụng quả bồ hòn làm kem cạo lông sau đây:

- Nấu dung dịch bồ hòn như cách làm nước tắm.

- Pha dung dịch bồ hòn với một giọt dầu ô liu, dầu dưỡng ẩm hoặc ít tinh dầu thiên nhiên bạn thích.

- Khuấy đều cho tới khi dung dịch đặc hơn rồi bỏ vào một hộp kín để bảo quản.

- Khi dùng “kem cạo lông bồ hòn”, bạn thoa hỗn hợp lên da và cạo như bình thường. Bạn lưu ý khuấy lại hỗn hợp trước mỗi lần dùng.

5.5 Dùng quả bồ hòn như nước vệ sinh nhà cửa

Dung dịch bồ hòn có thể giúp bạn vệ sinh những tấm kiếng bị mờ, bồn rửa mặt ố vàng hay sàn nhà đang dơ. Bạn có thể tham khảo cách lau dọn nhà bằng dung dịch từ quả bồ hòn sau đây:

- Nấu dung dịch bồ hòn như hướng dẫn trên.

- Pha dung dịch bồ hòn với giấm theo tỷ lệ 2:1 và thêm một vài giọt tinh dầu có khả năng sát trùng như tinh dầu tràm trà hoặc tinh dầu bạch đàn.

- Dùng hỗn hợp này thay thế nước vệ sinh để lau dọn các vết bẩn trong nhà.

Nếu muốn tránh các chất hóa học độc hại trong nước rửa chén hay nước lau nhà, bạn có thể áp dụng cách dùng quả bồ hòn để thay thế. Loại quả tự nhiên này không những giúp bạn bảo vệ sức khỏe mà còn rất thân thiện với môi trường.

Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:

1. Các nhà khoa học Canada tìm ra một nguyên nhân đến từ ngoài vũ trụ giúp cho sự sống có thể sinh sôi và duy trì trên Trái Đất, thay vì các hành tinh gần nhất là Sao Kim.

2. Theo Science Daily, các nhà khoa học ở đại học British Columbia (UBC) công bố nghiên cứu mới trên Tạp chí khoa học Nature Geoscience hôm 21/7 về nguyên nhân hình thành sự sống trên Trái Đất.

Nghiên cứu cho thấy bề mặt Trái Đất được bao phủ bởi các nguyên tố phóng xạ và sản sinh nhiệt lượng lớn như urani và kali ở thời kì mới hình thành. Tuy nhiên, một bước ngoặt xảy ra khiến cho một lượng rất lớn các nguyên tố này biến mất khỏi bề mặt Trái Đất.

Bước ngoặt này chính là những cơn mưa thiên thạch liên tục bắn phá khiến cho urani và kali bị tách ra khỏi bề mặt hành tinh và văng vào trong không gian. Điều này giúp cho bề mặt Trái Đất trở nên ổn định hơn.

"Sự kiện này đã góp phần định hình và kiến tạo nên địa chất, khí hậu và từ trường của Trái Đất như ngày nay chúng ta đang sống," Mark Jellinek, giáo sư Phòng Khoa học Trái Đất, Đại dương và Khí quyển thuộc UBC nói.

3. Các mảng kiến tạo nguội dần và ổn định hơn. Điều này giúp Trái Đất duy trì được từ trường mạnh và kích hoạt sự phun trào của các núi lửa. Núi lửa phun trào giải phóng khí nhà kính từ sâu trong lòng đất tạo nên khí hậu ấm áp và điều hòa thích hợp cho sự sống xuất hiện và phát triển. Đây là điểm khác biệt lớn nhất giữa Trái Đất và các hành tinh đá khác.

Ngày nay, sao Kim là một "vùng đất chết" nhưng các nhà khoa học đã đặt ra câu hỏi liệu hành tinh này có phải lúc nào cũng không phù hợp cho sự sống như vậy hay không?

Sao Kim - "người hàng xóm" gần chúng ta nhất, được gọi là anh em sinh đôi của Trái Đất bởi sự tương đồng về kích cỡ và mật độ của cả hai hành tinh. Tuy nhiên, xét trên những mặt khác, hai hành tinh này hoàn toàn khác nhau. Mọi thứ trên hành tinh này lại không diễn ra tương tự như hành tinh của chúng ta. Khi Trái Đất đã ổn định và có sự sống sinh sôi nảy nở, bầu khí quyển của Sao Kim chỉ toàn khí CO2 với nhiệt độ bề mặt lên đến 470 độ C.

4. Để hiểu về việc hai hành tinh đá này vì sao lại khác nhau như vậy, một nhóm các nhà vật lý thiên văn đã quyết định mô phỏng lại từ đầu thời điểm các hành tinh trong Hệ Mặt trời của chúng ta hình thành cách đây 4,5 tỷ năm.

Họ đã sử dụng mô hình khí hậu, tương tự như những gì các nhà nghiên cứu sử dụng khi mô phỏng sự thay đổi khí hậu trên Trái Đất, để nhìn lại thời điểm sao Kim và Trái Đất khi vẫn còn là các hành tinh trẻ. Nghiên cứu mới này đã được công bố trên tạp chí Nature ngày 13/10.

5. Các đại dương chỉ có thể hình thành khi nhiệt độ đủ lạnh để nước ngưng tụ và rơi xuống thành mưa trong hàng nghìn năm. Đó là cách mà đại dương trên Trái Đất hình thành trong hơn 10 triệu năm. Trong khi đó, sao Kim vẫn vô cùng nóng.

Vào thời điểm đó, Mặt Trời mờ hơn bây giờ 25%. Tuy nhiên, điều này vẫn chưa đủ để giúp sao Kim nguội bớt bởi nó là hành tinh nằm gần Mặt Trời thứ hai. Các nhà nghiên cứu đã đặt câu hỏi liệu các đám mây có giúp gì để nhiệt độ trên sao Kim giảm bớt hay không.

6. Mô hình khí hậu của các nhà nghiên cứu cho thấy, các đám mây đã đóng vai trò nhất định nhưng theo một cách không ngờ tới. Chúng tập hợp ở mặt tối của sao Kim và vì thế không thể bảo vệ hành tinh này khỏi Mặt trời ở phía ban ngày. Trong khi sao Kim không bị khóa thủy triều với Mặt Trời - hiện tượng mà một mặt của hành tinh luôn đối mặt với Mặt Trời, thì nó có tốc độ quay vô cùng chậm.

Thay vì che chắn cho sao Kim khỏi hơi nóng, những đám mây ở mặt tối của sao Kim góp phần gây ra hiệu ứng nhà kính, khiến hơi nóng bị mắc kẹt trong bầu khí quyển đậm đặc của hành tinh này và làm cho nhiệt độ luôn ở mức cao. Với khí nóng bị mắc kẹt liên tục như vậy, sao Kim quá nóng nên không thể có mưa. Thay vào đó, nước chỉ có thể tồn tại ở thể khí và hơi nước trong khí quyển.

7. "Nhiệt độ cao đồng nghĩa với việc nước chỉ có thể hình thành thể hơi giống như trong một cái nồi với áp suất khổng lồ", Martin Turbet, tác giả dẫn đầu nghiên cứu tại Khoa Khoa học thuộc Phòng Thiên văn học của Đại học Geneva nhận định.

"Trái Đất lẽ ra cũng có kết cục giống như Sao Kim," Jellinek nói và giải thích về nguyên nhân khiến cho hai hành tinh đã tiến hóa khác nhau, "mấu chốt của vấn đề chính là mức độ xói mòn khác nhau trên bề mặt."

Không bị bắn phá như Trái Đất, bề mặt Sao Kim nguội đi rất chậm theo thời gian. Các núi lửa biến động phức tạp, khí hậu đảo lộn liên tục trong hàng tỷ năm khiến cho sự sống không có cơ hội xuất hiện.

"Từ những ảnh hưởng của sự xói mòn bề mặt, chúng tôi nhận ra rằng những điều chỉnh về thành phần cấu tạo của hành tinh trong thời kì sơ khai sẽ để lại những hệ quả sâu sắc tới quá trình tiến hóa của nó. Chính những hoàn cảnh đặc biệt trong buổi sơ khai đã tạo nên Trái Đất ngày nay," Jellinek kết luận.

(Nguồn: khoahoc.tv)

Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:

1. Làm lạnh là quá trình tạo ra các điều kiện làm lạnh bằng cách loại bỏ hơi nóng. Người ta thường dùng quy trình này để bảo quản thức ăn và các mặt hàng dễ hư hỏng khác, bảo vệ con người khỏi các loại bệnh do thực phẩm gây ra. Bởi vì, vi khuẩn sẽ phát triển chậm hơn ở nhiệt độ thấp.

Theo Live Science, phương pháp bảo quản thực phẩm bằng cách làm lạnh đã có từ hàng ngàn năm nay, nhưng tủ lạnh hiện đại là một phát minh mới. Ngày nay, điện năng dùng cho tủ lạnh và điều hòa không khí chiếm gần 20% mức tiêu thụ năng lượng trên toàn thế giới.

2. Lịch sử của tủ lạnh

Vào khoảng năm 1000 TCN, người Trung Quốc đã biết cắt và lưu trữ băng. 500 năm sau đó, người Ai Cập và Ấn Độ đã biết cách để tận dụng đêm lạnh làm nước đá. Các nền văn minh khác, chẳng hạn như người Hy Lạp, La Mã và Do Thái, đã biết lưu trữ tuyết trong hầm lò và bao phủ chúng bằng các loại vật liệu cách nhiệt. Thế kỷ 17, tại nhiều nơi ở châu Âu, người ta đã tìm ra nitrat hòa tan trong nước để làm mát và dùng để tạo ra băng. Trong thế kỷ 18, người châu Âu thu lượm băng vào mùa đông, cho muối vào, bọc băng trong vải flannel, và cất giữ dưới lòng đất. Băng sẽ không bị tan chảy trong nhiều tháng liền. Băng đá thậm chí còn được vận chuyển đến nhiều nơi trên thế giới.

Khi không có băng, người ta dùng hầm mát hoặc đặt hàng hóa ở dưới nước; hoặc chế tạo thùng đá làm bằng gỗ, lót bằng thiếc, kẽm và vật liệu cách nhiệt.

Khái niệm về cơ điện lạnh bắt đầu vào những năm 1720, khi William Cullen, một bác sĩ người Scotland, nhận thấy sự bay hơi có tác dụng làm mát. Ông đã chứng minh ý tưởng này vào năm 1748.

Đến năm 1805, Oliver Evans, một nhà phát minh người Mỹ, đã thiết kế một chiếc máy làm lạnh sử dụng hơi nước thay vì chất lỏng. Năm 1820, nhà khoa học Anh Michael Faraday đã sử dụng amoniac hóa lỏng để làm mát.

3. Jacob Perkins, người làm việc với Evans, đã nhận được bằng sáng chế về chu kỳ nén hơi sử dụng amoniac hóa lỏng vào năm 1835. Ông được cho là "cha đẻ của tủ lạnh".

Năm 1842, John Gorrie, một bác sỹ người Mỹ, cũng chế tạo một chiếc máy tương tự thiết kế của Evans. Gorrie đã dùng chiếc tủ lạnh của mình tạo ra băng, để làm mát cho các bệnh nhân bị sốt vàng da ở một bệnh viện Florida. Năm 1851, Gorrie nhận được bằng sáng chế đầu tiên của Mỹ về phương pháp làm ra băng nhân tạo.

Ngoài ra, nhiều nhà sáng tạo trên thế giới đã tiếp tục phát triển ra những kỹ thuật mới hoặc cải thiện những kỹ thuật sẵn có để làm lạnh. Chẳng hạn như Ferdinand Carré, một kỹ sư người Pháp đã phát triển một tủ lạnh sử dụng hỗn hợp có chứa ammonia và nước vào năm 1859; hay Albert T. Marshall, nhà phát minh người Mỹ, đã sáng chế ra tủ lạnh cơ đầu tiên vào năm 1899; năm 1930, nhà vật lý nổi tiếng Albert Einstein được cấp bằng sáng chế tủ lạnh với ý tưởng tạo ra tủ lạnh thân thiện với môi trường, không phụ thuộc vào điện.

4. Tủ lạnh thương mại bắt đầu phổ biến vào cuối thế kỷ 19 nhờ sự phát triển của các nhà máy bia. Chiếc tủ lạnh đầu tiên được đã được đặt tại một nhà máy bia ở Brooklyn, New York, vào năm 1870. Bước sang thế kỷ 20, gần như tất cả các nhà máy bia đều có tủ lạnh.

Ngành công nghiệp đóng gói thịt là ngành công nghiệp tiếp theo phổ biến với chiếc tủ lạnh đầu tiên được giới thiệu tại Chicago vào năm 1900. Gần 15 năm sau đó, gần như tất cả các nhà máy đóng gói thịt đều sử dụng tủ lạnh.

Tủ lạnh được xem là vật dụng cần thiết trong các hộ gia đình vào những năm 1920, lúc đó, hơn 90% gia đình người Mỹ đã có tủ lạnh.

Ngày nay, gần như tất cả mọi nhà tại Mỹ - 99% - đều có ít nhất 1 tủ lạnh, và khoảng 26% hộ gia đình Mỹ có hơn 1 chiếc tủ lạnh trong nhà, theo báo cáo năm 2009 của Bộ Năng lượng Mỹ.

Tủ lạnh ngày nay hoạt động cũng giống như tủ lạnh hơn 100 năm trước: đó là bằng cách bay hơi chất lỏng. Các chất làm lạnh, các hóa chất lỏng được sử dụng để làm mát, làm bay hơi ở nhiệt độ thấp.

Các chất lỏng được đẩy vào tủ lạnh qua các ống và bắt đầu bốc hơi. Khi chất lỏng bay hơi, chúng mang theo hơi nóng ra một cuộn dây bên ngoài tủ lạnh, nơi nhiệt được tỏa ra. Các khí này lại trở về một máy nén, ở đây, chúng lại trở thành chất lỏng, và chu kỳ này lặp đi lặp lại.

5. Tủ lạnh có an toàn không?

Theo Cơ quan Bảo vệ Môi trường Mỹ (EPA), tủ lạnh hồi đầu sử dụng các chất lỏng và chất khí dễ cháy, độc hại, phản ứng mạnh. Năm 1926, Thomas Midgley, một kỹ sư người Mỹ và là nhà hóa học, đã nghiên cứu các lựa chọn an toàn hơn cho tủ lạnh và thấy rằng các hợp chất có chứa florua có vẻ an toàn hơn. Chlorofluorocarbons (CFCs), do công ty DuPont bán ra, trở nên phổ biến, cho đến 50 năm sau, các hợp chất này bị phát hiện là có hại cho tầng ozone trong khí quyển.

Theo Ủy ban Năng lượng California, hầu hết tủ lạnh sản xuất hiện nay sử dụng hydrofluorocarbons (HFCs), an toàn hơn so với CFC và nhiều lựa chọn khác, nhưng vẫn không phải là lý tưởng nhất.

6. Theo Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ, tủ lạnh giúp bảo quản thực phẩm an toàn, nhưng chỉ khi hoạt động ở nhiệt độ thích hợp. Khi tủ lạnh không đủ lạnh, vi khuẩn có hại trong thực phẩm dễ hư hỏng phát triển nhanh chóng và có thể gây ô nhiễm chéo thực phẩm, gây ra kích ứng nhẹ hoặc ngộ độc thực phẩm nghiêm trọng nếu chúng ta ăn vào. FDA khuyến cáo nhiệt độ của tủ lạnh nên đặt ở mức cao nhất là 40 độ Fahrenheit (4,4 độ C); ngoài ra nước, thức ăn đổ ra phải được làm sạch kịp thời.

7. Công nghệ của tủ lạnh

Ngày nay, tủ lạnh có 2 công nghệ làm lạnh. Thứ nhất, thông thường tủ lạnh dựa vào các máy nén lớn, phát sinh ra nhiều nhiệt và có thể khiến căn phòng để tủ lạnh dễ dàng nóng lên. Tuy nhiên, một công nghệ tủ lạnh mới là sử dụng toàn bộ bề mặt tủ lạnh, vì thế nó thải ra hơi nóng cực kỳ chậm, khiến nhiệt độ căn phòng hầu như không thay đổi và bề mặt tủ lạnh cũng rất mát khi chạm vào. Những tủ lạnh này còn có lợi ích là không dùng các chất liệu có hại và vận hành không gây ra tiếng ồn, cũng như có thể điều khiển chính xác hơn.

Một loại tủ lạnh mới nữa là sử dụng nam châm để giúp vận hành hoàn toàn im lặng, không rung và thân thiện với môi trường. Tủ lạnh nam châm sử dụng một khái niệm dựa trên hiệu ứng từ nhiệt, được phát hiện ra vào năm 1917 bởi Pierre Weiss và Auguste Piccard, hai nhà vật lý học người Pháp và Thụy Sỹ, và được nghiên cứu thêm bởi một nhóm các nhà khoa học đến từ Slovania và Đan Mạch vào năm 2015. Tủ lạnh từ tính sử dụng lượng điện ít hơn 35% so với tủ lạnh truyền thống.

(Nguồn: khoahoc.tv)

Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:

Bảo tồn và phát triển nguồn gen tại Nghệ An

      (1) Là  một  trong  những  địa  phương  có đa dạng sinh học cao ở Việt Nam,  với nhiều kiểu hệ sinh thái, nguồn tài  nguyên sinh vật phong phú, đa dạng  và đặc hữu, Nghệ An sớm nhận thấy  tầm quan trọng của nguồn gen trong  việc bảo tồn các giống cây trồng, vật  nuôi bản địa quý hiếm, coi việc bảo tồn  và lưu giữ nguồn gen là nhiệm vụ quan  trọng.  Đặc  biệt,  từ  khi  Đề  án  khung  các nhiệm vụ bảo tồn nguồn gen cấp  tỉnh giai đoạn 2014-2020 được UBND  tỉnh Nghệ An phê duyệt đã giúp công  tác này ở địa phương càng được chú  trọng và đạt được nhiều kết quả đáng  ghi nhận.

   (2) Để  bảo  tồn  và  phát  triển  nguồn  gen, trong thời gian qua Sở Khoa học  và Công nghệ (KH&CN) Nghệ An đã  triển khai nhiều nhiệm vụ nghiên cứu  về  nguồn  gen  như:  Bảo  tồn  nguồn  gen vật nuôi Việt Nam; Điều tra cây  con đặc sản, quý hiếm ở Nghệ An; Đa  dạng sinh học đảo Mắt, đảo Ngư và  biển  ven  bờ;  Đa  dạng  sinh  học  khu  Puxailaileng;  Đa  dạng  sinh  học  Khu  dự trữ sinh quyển Tây Nghệ An; Khảo  sát, đánh giá, đề xuất hình thức đăng  ký  bảo  hộ  các  sản  phẩm  mang  địa  danh của Nghệ An... Ngoài ra, các viện  nghiên cứu, trường đại học đóng trên  địa bàn tỉnh cũng huy động kinh phí  từ các nguồn khác để triển khai nhiều  đề  tài  khảo  sát,  thu  thập  các  nguồn  gen, như: Trung tâm Nghiên cứu cây  ăn quả và cây công nghiệp Phủ Quỳ  đã xây dựng được các tập đoàn cây ăn  quả gồm: Tập đoàn cây ăn quả có múi,  tập đoàn vải, nhãn, xoài, hồng, thanh  long,  lạc  tiên...  Thông  qua  việc  thực  hiện nhiệm vụ KH&CN cấp bộ, Trường  Đại học Vinh đã thu thập, lưu giữ và  đánh giá nguồn gen của các giống lúa  nương ở các huyện miền núi của 3 tỉnh  Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh... Các nhiệm vụ KH&CN đã điều tra, khảo sát và tổng hợp được số lượng khá phong phú các giống cây trồng, vật nuôi của tỉnh. Cụ thể:

       Về tài nguyên thực vật:   Trên địa bàn tỉnh có 31 loài quý hiếm có trong sách Đỏ Việt Nam. Các kết quả điều  tra, khảo sát cho thấy, Nghệ An là địa  phương  rất  đa  dạng  về  nguồn  gen  cây  lúa,  đậu,  cây  có  củ,  rau.  Trung  tâm Tài nguyên thực vật (Viện Khoa  học  nông  nghiệp  Việt  Nam)  đã  thu  thập được 960 nguồn gen trên địa bàn  tỉnh (nhóm cây lúa có 440 mẫu giống,  nhóm cây đậu có 151 mẫu giống, cây  có củ có 149 mẫu giống, cây rau có  220  mẫu  giống);  Viện  Khoa  học  kỹ  thuật  nông  nghiệp  Bắc  Trung  Bộ  đã  thu thập được 122 nguồn gen (cây có  hạt có 110 mẫu giống, cây có củ có  12 mẫu giống); Trường Đại học Vinh  đã thu thập được 79 giống (4 giống lúa  và 75 giống nếp địa phương). Về cây  ăn  quả,  Trung  tâm  Tài  nguyên  thực  vật đã thu thập được 185 nguồn gen  cây ăn quả trên địa bàn tỉnh Nghệ An.  Đây cũng là cơ sở để Viện Khoa học  kỹ  thuật  nông  nghiệp  Bắc  Trung  Bộ  thực hiện thành công đề tài “Nghiên  cứu và phục hồi giống cam Xã Đoài  ở vùng nguyên sản”, giúp bảo tồn và  phát  triển  loài  cam  đặc  sản  này.  Về  cây dược liệu, trên địa bàn tỉnh Nghệ  An đã thu thập được 962 loài cây thuốc  và nấm làm thuốc, thuộc 365 chi, 183  họ của 5 ngành thực vật bậc cao có  mạch khác nhau, trong đó có 769 loài  mọc tự nhiên và 193 loài cây trồng làm  thuốc. Hiện có 41 loài cây dược liệu  mọc trong tự nhiên có giá trị cao, đã  được khai thác và thương mại hóa rộng  rãi.  

    Về  nguồn  gen  vật  nuôi:   Trong  những  năm  qua,  Viện  Chăn  nuôi  đã  phối hợp với nhiều đơn vị trong tỉnh,  trong đó có Trung tâm Ứng dụng tiến  bộ  KH&CN  (Sở  KH&CN  Nghệ  An),  Khoa Nông lâm ngư (Trường Đại học  Vinh)  tiến  hành  điều  tra,  phát  hiện  và nghiên cứu bảo tồn kịp thời nhiều  nguồn gen vật nuôi như: Trâu Thanh  Chương,  trâu  Phủ  Quỳ,  trâu  Na  Hỷ,  bò U đầu rìu, bò H’mông (bò Mèo), bò  vàng Nghệ An, ngựa Mường Lống, dê  cỏ Nghệ An, hươu sao, lợn Mẹo, lợn  Xao Va; gà tây Kỳ Sơn, gà ác, vịt bầu  Quỳ,  ngỗng  cỏ  Nghệ  An,  ngan  trâu  Nghệ An...

     Về nguồn gen thủy, hải sản:  Nguồn  gen cá nước ngọt của Nghệ An được  đánh  giá  là  rất  phong  phú  về  thành  phần loài (280 loài thuộc 14 bộ, 60 họ,  230 giống), đa dạng về chủng loại, với  các nhóm: Cá nước ngọt, cá nước lợ,  cá di cư từ biển vào sông và ngược lại. Thông qua điều tra, khảo sát đã xác  định được 19 loài có giá trị cao gồm:  Cá bống bớp, diêu hồng, lóc bông, cá  lệch, cá lũ, cá mè kẽ, cá mòi, cá mú, cá  ngứa, cá nhớ, cá sứt môi, cua đá, cua  lông, hải sâm, ốc hương, tôm đá, tôm  tít, cá mát, cá lăng.

   (3) Từ năm 2014 đến 2016, thực hiện  Đề  án  khung  các  nhiệm  vụ  bảo  tồn  nguồn  gen  cấp  tỉnh,  Trung  tâm  Ứng  dụng tiến bộ KH&CN Nghệ An đã điều  tra,  thu  thập,  bổ  sung  một  số  nguồn  gen  trên  địa  bàn  tỉnh.  Cụ  thể,  năm  2015 qua điều tra tại các huyện Quế  Phong, Quỳ Châu và Quỳ Hợp đã ghi  nhận, thu mẫu và xác định vị trí phân  bố  được  9  loài  cây  thuốc  quý,  hiếm  được ghi trong sách Đỏ Việt Nam gồm:  Drynaria fortunei (Mett) - Cốt toái bổ;  Stemona  tuberosa  Lour  -  Bách  bộ;  Dis-porosis  Longifolia  Craib  -  Hoàng  tinh cách; Goniothanl Goniothanlamus  Vietnamensis  Ban  -  Bổ  béo  đen;  Tacca Subflabellta P.P.Ling & C.T.Ting  -  Phá  lửa  (Râu  hùm  Việt);  Fibraurea  tinctoria  Lour  -  Hoằng  đằng;  Smilax  glabra Roxb - Thổ phục linh; Morinda  officilalis Haw - Ba kích; Gynostemma -  Giảo cổ lam. Đặc biệt, trong năm 2016,  kết quả điều tra, khảo sát trên địa bàn  3 huyện Con Cuông, Tương Dương và  Kỳ Sơn đã thu được 12 loài cây trồng  bản địa và cây thuốc quý, hiếm được  ghi  trong  sách  Đỏ  Việt  Nam,  gồm:  Stephnia brachyandra Diels - Bình vôi  núi cao; Celastrus hindsii Benth - Xạ  đen;  Ampelopsis  cantoniensis  (Hook  et Arn) Planch - Chè dây; Polygonatum  kingianum  Coll.  et  Hemsl.  1890  -  Hoàng tinh vòng; Achillea millefolium  L., 1735 - Cỏ thi; Talinum paniculatum  (Jacp.) Gaertn., 1791 - Thổ nhân sâm;  Aristolochia lwangsiensis Chun et How  ex  Liang  -  Mã  đậu  linh  Quảng  Tây;  Zingiber  ottensii  Valeton  -  Gừng  tím;  Stahlianthus thorelli Gagnep - Tam thất  nam; Copis chinensis Franch, 1897 -  Hoàng liên; Zea mays L - Ngô nếp tím;  Oryza sativa L - Lúa nếp Khẩu hin.

   (4)  Bên cạnh các nhiệm vụ thu thập,  bảo tồn thì nhiều nhiệm vụ về khai thác  và  phát  triển  nguồn  gen,  ứng  dụng  công nghệ sinh học trong đánh giá di  truyền nguồn gen đã được triển khai.  Tiêu biểu trong số đó phải kể đến các  dự án do Trung tâm Tài nguyên thực  vật  chủ  trì  thực  hiện  (Khai  thác  phát  triển nguồn gen lúa đặc sản Khẩu cẩm  xẳng, Khẩu cẩm ngâu Nghệ An; Khai  thác và phát triển nguồn gen bí đá trái  dài và mướp đắng xanh tại Nghệ An;  Khai thác và phát triển nguồn gen đậu  xanh hạt nhỏ tại Nam Đàn, Nghệ An...)  đã góp phần bảo tồn nhiều nguồn gen  cây trồng quý, giúp giữ nhiều đặc tính  tốt, phù hợp với điều kiện sinh thái địa  phương. Đặc biệt, một số nguồn gen đã  được khai thác, sử dụng và phát triển  thành sản phẩm có giá trị thương mại  cao như rượu Mú từn, trà hoa vàng hòa  tan và viên nang cứng trà hoa vàng...  bước đầu được thị trường đón nhận.

   (5)  Có thể nói, công tác bảo tồn, khai thác và phát triển các nguồn gen cây  trồng, vật nuôi trên địa bàn tỉnh Nghệ  An đã thu được những kết quả đáng  ghi nhận. Tuy nhiên, so với con số về giống cây trồng, vật nuôi quý hiện có  trên địa bàn, số lượng nguồn gen được  lưu giữ, bảo tồn và phát triển còn rất  khiêm tốn. Trong khi đó, các cây con  đặc  sản  khác  đang  hàng  ngày,  hàng  giờ bị khai thác quá mức, khiến chúng  có nguy cơ tuyệt chủng cao hơn các  cây  con  thông  thường.  Xa  hơn  nữa,  nếu  để  mất  các  giống  cây  con  đặc  sản thì các giá trị tri thức, văn hóa gắn  liền với các tài nguyên này cũng sẽ bị  mất theo. Để khắc phục tình trạng này,  trong thời gian tới, Nghệ An cần tiếp  tục triển khai thực hiện công tác bảo  tồn,  khai  thác  sử  dụng  bền  vững,  có  hiệu quả các nguồn gen với định hướng  rõ ràng thông qua các giải pháp:

    Một  là,   ứng  dụng  KH&CN  hiện  đại kết hợp hài hòa với tri thức truyền  thống  trong  bảo  tồn  và  sử  dụng  bền  vững nguồn gen; bảo tồn và lưu giữ an  toàn các nguồn gen hiện có, khai thác  sử dụng bền vững, có hiệu quả nguồn  gen động vật, thực vật và vi sinh vật;  tìm kiếm, điều tra thu thập và đưa vào  bảo  tồn  các  nguồn  gen  bản  địa  mới  được phát hiện.

    Hai  là,   đánh  giá,  xác  định  giá  trị  nguồn  gen,  mức  độ  đe  dọa  tới  các  giống, loài bản địa đặc hữu, quý hiếm  hiện có và mới được thu thập; có các  phương  án  bảo  tồn  hiệu  quả  nguồn  gen: Xác định và giới thiệu được những  nguồn gen đặc hữu, giá trị kinh tế cao  vào sản xuất và đời sống; tư liệu hóa  nguồn gen, xây dựng hệ thống cơ sở  dữ liệu, thông tin về nguồn gen trên địa  bàn tỉnh, phục vụ quản lý nhà nước và  nghiên cứu khoa học, trao đổi thông tin  với mạng lưới quỹ gen quốc gia; khai  thác  và  phát  triển  nhanh  các  nguồn  gen thành sản phẩm thương mại; tập  trung khai thác các nguồn gen quý, có  giá trị kinh tế thành các giống bổ sung  vào cơ cấu giống của tỉnh, tạo ra một  số sản phẩm đặc thù, chủ lực của từng  địa phương phục vụ xuất khẩu và tiêu  dùng nội địa.

    Ba là,  để bảo tồn, khai thác nguồn  gen bản địa rất cần sự quan tâm sát  sao của các cấp, ngành trong tỉnh và  sự  góp  sức,  ủng  hộ  của  người  dân,  cũng như toàn xã hội. Bên cạnh đó, cần  triển khai xây dựng bộ máy, hệ thống tổ  chức bảo tồn nguồn gen cây trồng, vật  nuôi ở địa phương để giúp tăng cường  hiệu quả công tác quản lý, bảo tồn và  đánh giá nguồn gen cây trồng, vật nuôi  bản địa. Trên cơ sở đó, sẽ tổ chức xây  dựng cơ sở dữ liệu và thông tin nguồn  gen, phục vụ bảo vệ, khai thác và sử  dụng  nguồn  gen  cây  trồng,  vật  nuôi  một cách hợp lý, hiệu quả.

(Nguồn: “Bảo tồn và phát triển nguồn gen tại Nghệ An”, Ngô Hoàng Linh, Tạp chí Khoa học & Công nghệ Việt Nam, số 7, năm 2017)

Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi

Công nghiệp ô tô Việt Nam thời kỳ hội nhập ASEAN: Cần những thay đổi lớn

   (1) Ngành công nghiệp ô tô Việt Nam  ra  đời  muộn  hơn  so  với  các  nước  trong khu vực khoảng 30 năm. Thái  Lan,  Indonesia,  Malaysia  phát  triển  công nghiệp ô tô từ năm 1960, trong  khi Việt Nam đến năm 1991 mới bắt  đầu. Việt Nam đã bỏ lỡ cơ hội phát  triển  ngành  công  nghiệp  ô  tô  giai  đoạn 1991-2001, sau đó lại rơi vào  những bất cập trong xây dựng chiến  lược công nghiệp ô tô giai đoạn 2001- 2011, khiến khoảng cách với các nước  như  Thái  Lan  hay  Indonesia  không  được rút ngắn. Trong tương lai chúng ta sẽ chỉ hy vọng cải thiện được vị trí so với Philipines và Malaysia.  

   (2) Với  mục  đích  thu  hút  đầu  tư  và  xây dựng một ngành công nghiệp ô  tô theo kịp các nước trong khu vực,  ngành  công  nghiệp  ô  tô  của  Việt  Nam được coi là ngành trọng điểm và  luôn được ưu đãi nhất trong số các  ngành công nghiệp. Sự ưu ái đặc biệt  được thể hiện qua chính sách thuế ưu  đãi về tỷ lệ nội địa hóa, nhập khẩu  linh kiện lắp ráp và thu nhập doanh  nghiệp... Thế nhưng kết quả là, giá xe sản xuất trong nước cao gấp 2 đến  3 lần so với nhiều quốc gia khác. Sở  dĩ như vậy vì doanh nghiệp lắp ráp ô  tô ỷ lại sự bảo hộ của Nhà nước nên  đưa  ra  giá  bán  cao  để  thu  lãi  cao;  lấy lý do thị trường ô tô Việt Nam có  dung lượng chỉ bằng 1/10 thị trường  của các nước trong khu vực để không  giảm giá.

    (3) Tuy  đã  trải  qua  26  năm,  nhưng  ngành công nghiệp ô tô Việt Nam vẫn  chưa đạt được sự tự chủ và đáp ứng  nhu  cầu  thị  trường. Ngành này mỗi năm đóng góp khoảng 3% vào GDP, trong khi tỷ lệ đóng góp trung bình  của các nước trong khu vực ASEAN  là 10%. Doanh số xe các loại bán ra  dù bắt đầu tăng từ năm 2014 và đến  nay đạt 300.000 xe/năm nhưng vẫn  chưa tương xứng với quy mô sản xuất  và nhu cầu thị trường. Công nghiệp ô tô Việt Nam hiện mới chỉ đáp ứng 10 xe (xe con)/1.000 dân, trong khi tỷ lệ này ở các nước ASEAN là 80- 144 xe/1.000 dân. Trong số 17 doanh  nghiệp sản xuất lắp ráp ô tô của Việt  Nam hiện nay, chỉ có 2 doanh nghiệp  có thị phần lớn là Công ty cổ phần ô  tô Trường Hải (Thaco) chiếm 41,3%  và Toyota Việt Nam (chiếm 21,6%),  còn các doanh nghiệp khác có quy  mô nhỏ và rất nhỏ. Các doanh nghiệp  FDI  đa  số  chỉ  đầu  tư  cho  lắp  ráp,  không tập trung vào nội địa hóa vì đã  có sẵn các cơ sở sản xuất ở ASEAN  trước đó.

    (4) Công nghiệp ô tô Việt Nam đang  đứng  trước  một  số  vấn  đề  cơ  bản  sau: Thị trường trong nước còn nhỏ,  do  không  có  chính  sách  kích  cầu  hợp lý, cơ sở hạ tầng yếu; giá xe của  Việt Nam cao hơn so với giá xe của  các nước trong khu vực, do thuế và  phí quá cao; công nghiệp hỗ trợ cho  công nghiệp ô tô vẫn chưa phát triển,  chưa đáp ứng được nhu cầu sản xuất,  lắp ráp ô tô; áp lực cạnh tranh từ các  nước  trong  khu  vực  ngày  càng  lớn  khi lộ trình cắt giảm thuế quan hoàn  tất vào năm 2018 với mức thuế suất  về 0% đối với mọi loại xe ô tô nhập  khẩu từ ASEAN. Bên cạnh đó, chính sách phát triển công nghiệp ô tô thiếu đồng bộ và ngắn hạn, gây khó khăn cho các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp trong việc lập kế hoạch sản xuất  dài hạn. Các chính sách “trải thảm”  vẫn theo kiểu cào bằng, không ràng  buộc rõ trách nhiệm doanh nghiệp về  tỷ lệ nội địa hóa, đặc biệt là quá phụ  thuộc vào doanh nghiệp liên doanh và  doanh nghiệp FDI là những nguyên  nhân khiến ngành công nghiệp ô tô  Việt  Nam  phát  triển  không  như  kỳ  vọng.

      Một số đề xuất

    (5)  Với hơn 90 triệu dân, trong đó 67%  trong độ tuổi lao động (dân số vàng),  Việt Nam hiện có một thị trường ô tô  đầy  tiềm  năng.  Nhu  cầu  đi  lại,  vận  chuyển  hàng  hóa  đường  bộ  có  tốc  độ tăng trưởng trên 10%/năm, trong đó  vận  chuyển  hành  khách  chiếm  khoảng 91,4% và hàng hóa 70,6%.  Có  tiềm  năng  lớn  nhưng  Việt  Nam  lại phải bỏ ra hàng chục tỷ USD để  nhập khẩu ô tô, trong khi nhiều doanh  nghiệp lớn trong nước như Thaco đã  chuẩn bị sẵn các điều kiện cần thiết  để đón đầu cơ hội và thách thức. Để  cải thiện tình hình này, trong thời gian  tới, chúng ta cần quan tâm thực hiện  2 vấn đề lớn sau:

     Nâng  cao  vai  trò  của  những  doanh  nghiệp  đầu  tàu  và  tăng  cường hợp tác quốc tế

    (6) Sau  năm  2018,  nếu  không  có  doanh  nghiệp  đầu  tàu  với  năng  lực  cạnh tranh đủ mạnh, Việt Nam sẽ trở  thành thị trường tiêu thụ ô tô của các  nước trong khu vực ASEAN, Ấn Độ...  với các loại xe giá rẻ, gây ra thâm hụt  nghiêm  trọng  cán  cân  thương  mại;  ngành công nghiệp ô tô, công nghiệp  cơ khí không đạt mục tiêu đề ra, an  sinh xã hội sẽ bị ảnh hưởng do người  lao  động  mất  việc  làm.  Cần  phải  khẳng định rằng, mục tiêu nhắm đến  của công nghiệp ô tô Việt Nam không  phải là có được một sản phẩm ô tô  “Made  in  Vietnam”  mà  là  tham  gia  chuỗi giá trị toàn cầu thông qua hợp  tác với các đối tác nước ngoài tầm cỡ  thế giới. Liên quan đến vấn đề này,  khối ASEAN từ năm 2018 sẽ tiếp tục  là thị trường màu mỡ đối với các nhà  sản xuất ô tô Nhật Bản. Theo xu thế  tất yếu, các doanh nghiệp Nhật Bản  sẽ mở thêm các cơ sở sản xuất tại  ASEAN, trong đó có Việt Nam. Một  quốc gia châu Á khác cũng có ngành  công nghiệp ô tô phát triển mạnh là  Hàn Quốc, nhưng chưa có nhiều cơ  sở  sản  xuất  tại  các  nước  ASEAN.  Vấn đề đặt ra là, những đối tác này  cũng có những mục tiêu của họ khi  quyết định đầu tư mở thêm các cơ sở  sản xuất ở Việt Nam. Trong đó, tiêu  chí quan trọng nhất là phải có doanh  nghiệp trong nước hội đủ các chỉ tiêu  mạnh  về  kinh  tế,  kỹ  thuật,  nguồn  nhân lực, nghiên cứu - phát triển và  quản trị hiệu quả... để hợp tác với họ,  tức là phải có một doanh nghiệp đầu  tàu.  

    (7) Thaco  với  khu  phức  hợp  công  nghiệp ô tô ở Khu kinh tế mở Chu Lai  có công suất 250.000 xe/năm và hệ  thống  phân  phối  3S  trải  dài  từ  Bắc  đến Nam là doanh nghiệp hội tụ đầy  đủ các tiêu chí đó. Hợp tác chiến lược  giữa Thaco và Mazda (hãng ô tô nổi  tiếng với sự vượt trội và đa dạng về  loại  hình  sản  phẩm  có  sức  thu  hút  thị trường cao) vừa qua cũng là một  hướng đi mới. Trong thực tế, Hyundai,  KIA  và  Mazda  đã  thâm  nhập  thị  trường ASEAN với Việt Nam là cửa  ngõ  để  đặt  cơ  sở  sản  xuất  và  xuất  khẩu ra toàn khu vực.  

   (8)  Như vậy, năm 2018, công nghiệp  ô  tô  Việt  Nam  sẽ  phải  xoay  trục,  hướng về các doanh nghiệp nội địa lớn trong nước với những chính sách  mới,  đột  phá,  nhất  quán  của  Nhà  nước và hướng về hợp tác quốc tế có  định hướng chiến lược.  

     Cần có những thay  đổi  chính  sách ở tầm vĩ mô  

    (9) Đa số chính sách phát triển công  nghiệp ô tô Việt Nam thời gian qua  thiếu đồng bộ và thường mang tính  ngắn  hạn,  chưa  khuyến  khích  được  các doanh nghiệp đầu tư phát triển.  Đặc biệt là từ năm 2018 sẽ nảy sinh  nghịch lý mới, thuế suất xe nhập khẩu  nguyên  chiếc  là  0%,  trong  khi  thuế  nhập linh kiện, phụ kiện vẫn là 15 đến  25%. Như vậy, ô tô ngoại nhập giá  rẻ sẽ ồ ạt xâm nhập thị trường trong  nước,  khiến  xe  nội  địa  không  thể  cạnh tranh được. Ngoài ra, các chính sách thu hút đầu tư nước ngoài đối  với công nghiệp hỗ trợ ngành công  nghiệp ô tô Việt Nam hiện nay còn  khá sơ sài, chưa trở thành công cụ  hữu hiệu thúc đẩy sự phát triển của  ngành. Do vậy, Nhà nước cần nhanh chóng thay đổi những chính sách này để tạo điều kiện cho công nghiệp ô tô  Việt Nam đứng vững và cạnh tranh tốt  sau năm 2018.

    (10) Điều  kiện  cần  là  Nhà  nước  phải  thay  đổi  cả  về  chính  sách  vĩ  mô  ở  cấp nhà nước và cấp quản trị doanh  nghiệp để có thể nâng cao năng lực  quản  trị  nguồn  lực  của  ngành  và  doanh nghiệp theo mô hình tập trung,  xuyên suốt, nhắm tới mục tiêu tạo ra  một năng lực cạnh tranh mới mang  tầm quốc gia, với năng suất lao động  cao, chi phí thấp. Khi đó, công nghiệp ô tô Việt Nam mới tạo được sự khác  biệt lớn từ sản phẩm, công nghệ, dịch  vụ so với các đối thủ và làm hài lòng  khách hàng, từng bước chiếm lĩnh thị  trường.  Việc  thành  lập  những  cụm  công  nghiệp  ô  tô  với  những  doanh  nghiệp  ô  tô  đầu  tàu  như  Thaco  và  các đối tác chiến lược nước ngoài tầm  cỡ, đồng thời kết nối với các doanh  nghiệp nhỏ và vừa là điều kiện đủ để  hội nhập thành công.

     (11) Có thể nói, khe cửa để phát triển  công nghiệp ô tô của Việt Nam đang  rất  hẹp,  sẽ  có  nhiều  doanh  nghiệp  không  chịu  nổi  sức  ép  cạnh  tranh  phải rời cuộc chơi. Nhưng đây lại là  cơ hội dành cho những doanh nghiệp  có chiến lược khác biệt, có năng lực  công nghệ, có đội ngũ nhân lực kỹ  thuật mạnh và năng động, có tiềm lực  tài chính, có phương thức quản trị tốt  và có đối tác chiến lược tầm cỡ... tồn  tại và phát triển bền vững.

(Nguồn: “Công nghiệp ô tô Việt Nam thời kỳ hội nhập ASEAN: Cần những thay đổi lớn”, Phạm Xuân Mai, Tạp chí Khoa học & Công nghệ Việt Nam, số 7, năm 2017)

Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:

Dinh dưỡng hợp lý và những điều cần chú ý trong ngày Tết

      (1) Chúng  ta  đã  biết  rằng,  dinh  dưỡng có 3 mục đích chính: Một  là tạo điều kiện thuận lợi để cơ  thể có sức khỏe tốt lành; hai là  phòng ngừa các bệnh liên quan  tới dinh dưỡng; ba là khôi phục  sức  khỏe  sau  thời  kỳ  bệnh  tật,  thương tích.

 (2) Ông tổ của ngành y là danh y người Hy Lạp Hippocrates cho rằng: Để phòng ngừa và điều trị một số bệnh, ta chỉ cần áp dụng  những chế độ ăn uống cân bằng  hợp lý và sống hài hòa với thiên  nhiên.  Các  vị  danh  y  của  Việt  Nam như Tuệ Tĩnh, Hải Thượng  Lãn  Ông  cũng  đều  nhấn  mạnh  vai trò quan trọng của ăn uống  trong việc ngăn ngừa và chữa trị  một số bệnh. Danh y Tuệ Tĩnh đã từng khuyên: “Muốn cho phủ tạng được yên/Bớt ăn mấy miếng, nhịn thèm hơn đau”... Quả thực, cách ăn uống và dinh dưỡng sao cho hợp lý có vai trò rất quan trọng và liên quan mật thiết tới sức khỏe  của mỗi cá nhân. Ăn uống không đúng với tình trạng sinh lý cơ thể sẽ mang lại hậu quả xấu tới sức khỏe, trong khi chỉ với những thay đổi nhỏ về dinh dưỡng cũng góp  phần cải thiện sức khỏe lên rất  nhiều.

     Dinh dưỡng hợp lý và cân bằng

    (3)  Dinh  dưỡng  hợp  lý  và  cân  bằng là phải đảm bảo cung cấp  đủ cho cơ thể 6 nhóm thức ăn  sau:  1)  Protein  (dùng  để  tạo  hình, sản sinh ra năng lượng khi  cơ  thể  thiếu  năng  lượng,  nhu  cầu tùy thuộc vào lứa tuổi, chất  lượng  protein  của  thực  phẩm  ăn  vào,  nhưng  không  nên  quá  khoảng 150 g/ngày); 2) Lipid (là thành  phần  cấu  trúc  của  nhiều  tổ chức trong cơ thể, đặc biệt là  cấu trúc màng, nhu cầu khoảng  15-30% năng lượng khẩu phần);  3) Glucid (có vai trò chính là tạo  năng  lượng,  nhu  cầu  khoảng  60-70% năng lượng khẩu phần);  4) Chất xơ (khoảng 30-40 g/ngày  là an toàn và có lợi); 5) Chất khoáng  (nhu cầu Ca, P, Mg... khoảng  ≥ 100  mg/ngày;  chất  khoáng  vi  lượng  như  sắt,  iod,  fluor,  kẽm,  selen...  chỉ  cần  ≤   15  mg/ngày);  6)  Vitamin (gồm các vitamin tan  trong nước như B1: 0,4 mg/1.000  kcal,  B2:  0,55  mg/1.000  kcal,  PP: 6,6 đương lượng niacin/1.000  kcal,   C:   30-60   mg/ngày;  các  vitamin  tan  trong  chất  béo  như  A:  350-600  mcg/ngày,  D:  400  UI/ngày  với  trẻ  em,  100 UI/ngày với người lớn, E: nhu  cầu khó xác định, tuy nhiên với  liều 800 mg/ngày có thể gây khó  chịu, mệt mỏi...).  

    (4)  Tổ chức Y tế thế giới (WHO) cũng đã khuyến nghị, mỗi người trưởng thành cần ăn tối thiểu 400 g rau, củ, quả mỗi ngày để bổ  sung đầy đủ vitamin, khoáng chất  và dưỡng chất thực vật cho cơ thể,  kết hợp với rèn luyện thể lực một  cách hợp lý, có đời sống tinh thần  lành mạnh, sẽ tạo nền tảng vững  chắc để đạt đến sức khỏe tối ưu.  Tuy  nhiên,  các  chuyên  gia  của  WHO đã cảnh báo: Có đến 75%  dân số trên thế giới không ăn đủ  lượng rau, củ, quả theo khuyến  nghị  này.  Theo các chuyên  gia  dinh dưỡng, ở Việt Nam, con số  này còn cao hơn nữa.

    (5)  Để hiểu rõ hơn về vấn đề dinh  dưỡng thế nào cho đúng, chúng  ta hãy cùng xem lại 10 Lời khuyên  dinh dưỡng hợp lý đến năm 2020  thực hiện Chiến lược quốc gia về  dinh dưỡng giai đoạn 2011-2020,  tầm nhìn đến năm 2030 do Bộ Y  tế ban hành từ năm 2013:

     Lời khuyên số 1:  Ăn đa dạng  nhiều  loại  thực  phẩm  và  đảm  bảo đủ 4 nhóm: Chất bột, chất  đạm, chất béo, vitamin và muối  khoáng.

     Lời  khuyên  số  2:   Phối  hợp  thức ăn nguồn đạm động vật và  thực vật, nên ăn tôm, cua, cá và  đậu đỗ.

     Lời khuyên số 3:  Ăn phối hợp  dầu thực vật và mỡ động vật hợp  lý, nên ăn vừng lạc.

     Lời khuyên số 4:  Nên sử dụng  muối Iốt, không ăn mặn.

     Lời khuyên số 5:  Cần ăn rau  quả hàng ngày.

     Lời khuyên số 6:  Đảm bảo an  toàn vệ sinh trong lựa chọn, chế  biến và bảo quản thực phẩm.

     Lời khuyên số  7:   Uống  đủ  nước sạch hàng ngày.

     Lời khuyên số 8:  Cho trẻ bú  mẹ  ngay  sau  khi  sinh,  bú  mẹ  hoàn toàn trong 6 tháng đầu, ăn  bổ sung hợp lý và tiếp tục cho bú  mẹ đến 24 tháng.

     Lời khuyên số 9: Trẻ sau 6  tháng và người trưởng thành nên  sử  dụng  sữa  và  các  sản  phẩm  của sữa phù hợp với từng lứa tuổi.

     Lời khuyên số 10:   Tăng  cường hoạt động thể lực, duy trì  cân nặng hợp lý, không hút thuốc  lá, hạn chế uống rượu bia, nước  có ga và ăn, uống đồ ngọt.

Dinh dưỡng ngày Tết

    (6)  Đây là một chủ đề không kém  phần  quan  trọng  cần  được  mọi  người quan tâm thỏa đáng, vì nó  tiềm ẩn nhiều nguy cơ cho sức khỏe  nếu  chúng  ta  không  biết  cách duy trì chế độ dinh dưỡng  hợp lý, đặc biệt với một số đối  tượng dễ bị ảnh hưởng như trẻ  em,  người  già,  người  mắc  các  bệnh  mạn  tính...  Sau  mỗi  dịp  Tết đến,      Xuân về lại có rất nhiều  người bị tăng cân, hoặc gia tăng  tái phát các bệnh mạn tính. Ngày  Tết,  thời  gian  nghỉ  ngơi  nhiều  hơn, nhu cầu năng lượng ít hơn,  nhưng trên thực tế, chúng ta lại  thường  nạp  thêm  nhiều  năng  lượng  hơn  so  với  ngày  thường,  với nhiều loại thực phẩm có năng  lượng  cao,  chứa  nhiều  đường,  chất béo, chất đạm động vật từ  các loại thịt, cá, trong khi lượng  rau, củ, quả thì hầu như không  đạt yêu cầu tối thiểu 400 g/ngày.  Bên cạnh đó, việc ăn uống trong  dịp Tết thường không được điều  độ, không đúng bữa, số bữa ăn  thường nhiều hơn ngày thường...  dẫn đến khẩu phần ăn mất cân  đối. Đây chính là thủ phạm gây  tăng cân, gia tăng các bệnh như  gút, cao huyết áp... Rượu, bia là  thức uống không thể thiếu trong  mâm  cỗ  ngày  Tết,  nhưng  nếu  uống quá nhiều sẽ ảnh hưởng xấu  đến sức khỏe, gây ra các nguy cơ  cao đối với bệnh tim mạch, tiểu  đường...  (chưa  kể  đến  nguy  cơ  mất an toàn cho chính bản thân  mình và người khác khi tham gia  giao thông).

    (7)  Để đảm bảo dinh dưỡng hợp lý  trong dịp Tết, chúng ta nên thực  hiện  5  nguyên  tắc  cơ  bản  sau  đây:

     Phối hợp các loại đồ ăn một  cách hợp lý

     Bữa  ăn  ngày  Tết  thường  có  nhiều  đạm  và  chất  béo,  vì  vậy  chúng ta nên dùng kèm với các  loại  đồ  ăn  chứa  nhiều  vitamin,  chất xơ như rau, củ, quả, măng  khô, dưa hành, dưa chua để quá  trình tiêu hóa dễ dàng hơn. Không  nên dùng chung các loại đồ ăn,  uống có tính kỵ nhau, tránh gây  đầy bụng, khó tiêu hoặc ngộ độc  như: Sữa đậu nành với trứng gà;  sữa bò và nước hoa quả chua;  gan động vật với cà rốt, rau cần;  cá chép với thịt cầy; thịt chó, thịt  dê với nước chè ...

     Cân đối khẩu phần ăn

    Mỗi  người  sẽ  có  khẩu  phần  ăn   riêng phù hợp với cơ thể của  mình, nhưng phải bao gồm đầy  đủ 6 nhóm thức ăn như đã nêu ở  trên. Đặc biệt, ngày Tết nên tăng  cường thêm rau xanh, hoa quả  tươi để cân bằng năng lượng cho  cơ thể. Nhu cầu năng lượng trung  bình của người trưởng thành là 50  kcal/kg trọng lượng cơ thể/ngày,  của trẻ em là 100 kcal/kg trọng  lượng cơ thể/ngày. Không nên ăn  nhiều các loại thức ăn chứa nhiều  muối như các loại thực phẩm khô,  đồ ăn sẵn (giò, chả, xúc xích...) vì  thừa muối sẽ làm ảnh hưởng đến  quá trình trao đổi chất tự nhiên.

     Ăn uống điều độ

     Nên ăn đủ 3 bữa chính hàng  ngày, không nên bỏ bữa. Nếu ăn  nhiều hơn 3 bữa trong ngày thì  nên ăn ít, chia nhỏ bữa ăn. Hạn  chế ăn bánh mứt kẹo, nước ngọt,  rượu bia vì những chất này dễ gây  đầy bụng, khó tiêu, nhiều nguy  cơ về tim mạch.

    Bảo đảm vệ sinh và an toàn  thực phẩm

    Tuyệt  đối  không  được  dùng  thực phẩm ôi thiu, có dấu hiệu  hỏng hoặc biến chất. Nếu cố tình  dùng những loại thực phẩm này  sẽ có thể bị ngộ độc từ nhẹ đến  nặng, thậm chí tử vong. Bảo quản  thức ăn công nghiệp, thực phẩm  chế biến sẵn... theo đúng hướng  dẫn của nhà sản xuất để giữ gìn  chất lượng sản phẩm một cách  tốt nhất. Việc bảo đảm vệ sinh an  toàn thực phẩm sẽ giúp bảo đảm  sức khỏe cho bản thân cũng như  gia đình của mình.

    Dinh  dưỡng  cho  người  già,  trẻ  em,  người  mắc  bệnh  mạn  tính

   (8)  Với người già, các chức năng tiêu hóa, tuần hoàn đã bị lão hóa,  suy giảm hoạt động, do vậy nên  dùng các loại thức ăn nhẹ, dễ tiêu  hóa như các loại rau xanh, cơm,  hạt ngũ cốc, hạn chế dùng các  loại thịt đỏ như thịt bò, thịt trâu và  thức ăn chế biến sẵn. Người già  nên nhai thật kỹ, không nên chan  canh vào cơm vì khó nhai nhuyễn,  gây cảm giác no giả tạo; nên chia  thành nhiều bữa nhỏ trong ngày.  Ngược lại, cũng không nên kiêng  khem quá mức, sẽ dẫn tới thiếu  chất dinh dưỡng cho cơ thể. Đối  với trẻ em, cố gắng duy trì các  bữa ăn chính một cách đúng giờ,  bổ sung đủ nước, nhiều rau xanh  và trái cây tươi, hạn chế sử dụng  các loại đồ uống quá ngọt, có ga.  Với những người mắc bệnh béo  phì, tim mạch, gút, tiểu đường, dạ  dày, cần tránh dùng những thực  phẩm chứa nhiều gia vị, có hàm  lượng  chất  đạm,  chất  béo  cao,  tuyệt đối không dùng rượu bia và  nước ngọt có ga.

   (Nguồn: “Dinh dưỡng hợp lý và những điều cần chú ý trong ngày Tết”, SH, Tạp chí Khoa học & Công nghệ Việt Nam, số 1, năm 2018)

Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:

Những tiến bộ trong nghiên cứu vắc-xin và thuốc điều trị để chống lại căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS

   (1) Tháng  7/2017,  Hội  nghị  khoa  học  toàn  cầu  về  HIV/AIDS  (IAS  2017)  đã  diễn  ra tại Paris, Pháp với 1.700 bài  báo khoa học được trình bày. Các  nghiên  cứu  đã  chỉ  ra  các  cách  tiếp cận và công cụ mới để tăng  cường  kiểm  soát  HIV  trên  toàn  cầu.

    (2) Bà  Linda-Gail  Bekker,  Chủ  tịch  Hiệp  hội  quốc  tế  về  AIDS  (IAS)  và  là  Chủ  tịch  Hội  đồng  khoa học quốc tế của IAS 2017  cho biết: “Mỗi nghiên cứu đang  tập trung hiện nay đều đưa chúng  ta đến một bước gần hơn với sự  kết thúc của HIV. Nghiên cứu bao  gồm nhiều hướng khác nhau như  vắc-xin, các phương pháp điều trị  mới. Bằng chứng thực tế cho thấy,  những nỗ lực hiện tại của chúng  ta để mở rộng các thử nghiệm và  điều trị đang được đánh giá cao”.  

     (3) Hướng  sản  xuất  vắc-xin  HIV  đã mang lại nhiều hứa hẹn mới:  Đó  là  kết  quả  từ  nghiên  cứu  APPROACH,  một  nghiên  cứu  pha  1/2a  đánh  giá  7  loại  vắc- xin phòng ngừa HIV khác nhau  (vắc-xin tái tổ hợp dựa trên gen  đặc trưng của virus HIV). Nghiên  cứu APPROACH được thực hiện  trên  393  người  lớn  có  nguy  cơ  nhiễm HIV thấp ở Mỹ, Rwanda,  Uganda, Nam Phi và Thái Lan.  Loại vắc-xin này bao gồm hai gen  đầu tiên với Ad26.Mos.HIV và hai  tái tổ hợp với  Ad26.Mos.HIV và  Clade  C  gp140  được  bổ  sung  thêm nhôm đáp ứng được miễn  dịch mạnh nhất. Loại vắc-xin này  đã được chứng minh là bảo vệ tốt  nhất cho loài linh trưởng.

      (4) Tiến bộ trong nghiên cứu thuốc  điều  trị  HIV  dạng  tiêm  có  thời  gian tác dụng kéo dài, đó chính  là LATTE-2. Đây là một nghiên  cứu mở giai đoạn II b, dùng phối  hợp hai thuốc cabotegravir (chất  ức  chế  integrase)  và  rilpivirine  (NNRTI - ức chế men sao chép  ngược non-nucleotide thế hệ thứ  hai) như là một liệu pháp duy trì  cho những người đã điều trị ARV  (ARV là thuốc điều trị dùng cho  những người bị HIV, có tác dụng  làm giảm sự phát triển của virus  HIV và làm chậm giai đoạn HIV  sang AIDS) có tải lượng virus HIV  dưới  ngưỡng  phát  hiện.  Nghiên  cứu  cho  thấy,  liệu  trình  điều  trị  bằng thuốc tiêm, có tác dụng kéo  dài sẽ thuận tiện hoặc ít bị kỳ thị  hơn so với thuốc uống hàng ngày,  điều này có thể giúp cải thiện tỷ  lệ tuân thủ điều trị ở người nhiễm  HIV.

     (5) Giáo  sư  Joseph  Eron  thuộc  Đại học North Carolina (Chapel  Hill,  Mỹ)  đã  trình  bày  kết  quả  nghiên cứu về LATTE-2 được thử  nghiệm  trong  96  tuần.  Nghiên cứu cho thấy, thuốc có tác dụng kéo dài trên những bệnh nhân sử dụng thuốc. Trong đó dạng tiêm  dung nạp tốt và đạt được tỷ lệ đáp  ứng  virus  dưới  ngưỡng  ức  chế  cao, bất kể tiêm với tần suất bốn  tuần một lần hoặc tám tuần một  lần. Liệu trình liều lượng bốn tuần hiện đang được đánh giá  trong  các nghiên cứu giai đoạn III.

     (6) Có thể thấy, với những kết quả  nghiên cứu trong sản xuất vắc-xin  và thuốc điều trị HIV dạng tiêm  cùng các chiến lược tốt hơn để  chống lại các bệnh nhiễm trùng  cơ  hội  sẽ  mang  lại  những  hiệu  quả  nhất  định  trong  việc  kiểm  soát căn bệnh này trong thời gian  tới.

(Nguồn: “Những tiến bộ trong nghiên cứu vắc-xin và thuốc điều trị để chống lại căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS”, Nguyễn Văn Kính, Tạp chí Khoa học & Công nghệ Việt Nam, số 1, năm 2018)

Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:

Xử lý nước suối thành nước sạch bằng công nghệ siêu lọc kết hợp vật liệu đa năng

      (1) Hà Giang là một trong những tỉnh có lượng mưa lớn nhất cả nước, tuy nhiên, do địa hình chia cắt, nên lượng nước thu được thấp, đặc biệt tại 4 huyện vùng cao núi đá là: Đồng Văn, Mèo Vạc, Yên Minh và Quản Bạ. Với địa hình phức tạp, nhiều dãy núi cao nên việc dẫn nước, giữ nước và khai thác tài nguyên này trong tỉnh là tương đối khó khăn. Thời gian thiếu nước sinh hoạt thường kéo dài từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau. Để có nước phục vụ sinh hoạt, người dân phải đi bộ hàng chục kilomet và chờ hứng nước nửa ngày mới đủ dùng trong 4-5 ngày.

      (2) Bên cạnh việc thiếu nước, chất lượng nước sông suối khu vực biên giới tỉnh Hà Giang cũng có xu  hướng giảm sút. Theo Báo cáo hiện trạng môi trường tổng thể tỉnh Hà Giang giai đoạn 2011-2015 của Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Giang cho thấy,  chất lượng nước sông Lô khu vực cửa khẩu Thanh  Thủy có hàm lượng chất rắn lơ lửng (TSS) vượt giới  hạn cho phép, hàm lượng kim loại nặng như Zn, Fe,  coliform... cao gấp nhiều lần so với các vị trí khác.  Báo cáo cũng cho thấy, các hoạt động sản xuất từ phía Trung Quốc đã gây ảnh hưởng nhất định tới  chất lượng nước sông Lô.  

      (3) Qua khảo sát địa bàn Hà Giang cho thấy, tại xã Ngọc Đường, TP Hà Giang, hàng nghìn người dân thường xuyên phải chịu tình trạng khan hiếm nước  vào mùa khô, nguồn nước kém chất lượng nên đời  sống gặp nhiều khó khăn. Bên cạnh đó, các doanh trại bộ đội đóng trên địa bàn cũng gặp khó khăn khi  phải dùng chung một nguồn nước lấy từ giếng đào  tầng nông với chất lượng không đảm bảo, trữ lượng  không đáp ứng nhu cầu sinh hoạt.  

      (4) Trước thực trạng trên, Viện Kỹ thuật và Công nghệ môi trường (Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam) đã đề xuất và được phê duyệt thực hiện đề tài “Nghiên cứu ứng dụng công nghệ màng lọc kết hợp với vật liệu lọc đa năng để xử lý nước suối vùng biên giới Tây Bắc cấp nước cho sinh hoạt”. Đề tài thuộc Chương trình KH&CN trọng điểm cấp nhà nước giai đoạn 2013-2018. Mục tiêu của đề tài là xử lý nước suối thành nước sạch bằng công nghệ siêu lọc kết hợp vật liệu đa năng cung cấp cho quân và dân trên địa bàn xã Ngọc Đường, TP Hà Giang.

      (5) Sau khi nghiên cứu kỹ địa hình và lựa chọn công  nghệ, các nhà khoa học của Viện Kỹ thuật và Công  nghệ môi trường đã lựa chọn công nghệ siêu lọc UF  (Ultra Filtration) kết hợp vật liệu đa năng để xử lý  nước tại đập chứa Tà Vải. Lý do lựa chọn công nghệ màng lọc UF là vì màng có kích thước  từ 0,1~0,001  micron ( μ m)  có thể lọc sạch 100% tạp chất, loại bỏ  dầu, mỡ, hydroxit kim loại, chất keo, nhũ tương, chất  rắn lơ lửng và ký sinh trùng, virus, vi khuẩn. Nước  sau lọc bằng công nghệ UF đáp ứng Quy chuẩn kỹ  thuật QCVN 01:2009/BYT. Hơn nữa, màng lọc UF  có giá thành thấp và khả thi hơn so với các công  nghệ lọc khác.

      (6) Việc xử lý nước cấp sinh hoạt tại  đập chứa nước Tà Vải, xã Ngọc Đường theo 4 bước:

       Bước 1: Dùng keo tụ lắng nước, làm trong nước  lần 1.

       Bước 2: Làm trong nước bước 2, kết hợp xử lý  các chất ô nhiễm đặc biệt.

       Bước 3: Xử lý nâng cao loại bỏ vi trùng và kim  loại nặng.

       Bước 4: Cấp nước ăn uống, sinh hoạt. Kết quả cho thấy, chất lượng nước (18 mẫu) sau  khi xử lý bằng màng lọc UF và sử dụng các vật liệu  (lọc cát kết hợp vật liệu đa năng) đã được kiểm  nghiệm  tại  Phòng  thí  nghiệm  của  Viện  Kỹ  thuật  và Công nghệ môi trường đạt Quy chuẩn kỹ thuật  QCVN 01:2009/BYT.

      (7) Việc thực hiện thành công đề tài “Nghiên cứu  ứng dụng công nghệ màng lọc kết hợp với vật liệu  lọc đa năng để xử lý nước suối vùng biên giới Tây  Bắc cấp nước cho sinh hoạt” có ý nghĩa rất quan  trọng đối với quân và dân ở xã Ngọc Đường, TP  Hà Giang, tỉnh Hà Giang. Bên cạnh mục tiêu an  sinh xã hội, đề tài còn có giá trị về mặt an ninh  - quốc phòng, góp phần thúc đẩy phát triển kinh  tế - xã hội một cách bền vững cho các địa phương  còn khó khăn thuộc vùng biên giới của Tổ quốc. Mô  hình xử lý nước cho sinh hoạt tại vùng nghiên cứu  hoàn toàn có thể nhân rộng cho một số nơi khan  hiếm nước sinh hoạt về mùa khô ở khu vực miền núi  phía Bắc. Việc triển khai đề tài nghiên cứu ứng dụng  công nghệ mới nhằm giải quyết nhu cầu thiết yếu  về nước sinh hoạt của người dân cho thấy, KH&CN  luôn đóng vai trò quan trọng trong mọi hoạt động  của đời sống xã hội. Chỉ có KH&CN mới có thể giải  quyết được các bài toán khó trong nhiều lĩnh vực  khác nhau phục vụ thiết thực cho đời sống xã hội.

   (Nguồn: “Xử lý nước suối thành nước sạch bằng công nghệ siêu lọc kết hợp vật liệu đa năng”, ThS Đặng Xuân Thường, TS Nguyễn Phú Duyên, ThS Lê Văn Thạch, Tạp chí Khoa học & Công nghệ Việt Nam, số 11, năm 2017)

Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:

Tổng hợp nano bạc từ chiết xuất nha đam

    (1) Trong nhiều thập kỷ qua, nano bạc luôn thu hút sự  chú ý của các nhà khoa học trên thế giới, xuất phát từ  những tính chất độc đáo cũng như phạm vi ứng dụng rộng  lớn của vật liệu này. Cụ thể, nano bạc đã được nghiên  cứu sử dụng làm chất xúc tác, đầu dò sinh học hay chất hiện hình. Đặc biệt, nhờ vào hoạt tính kháng  khuẩn hiệu quả, nano bạc được xem là giải pháp tiềm  năng cho nhiều vấn đề về nhiễm khuẩn sinh học, bao  gồm cả vi khuẩn kháng kháng sinh. Vì vậy, rất nhiều  phương pháp tổng hợp từ vật lý đến hóa học đã được đề  xuất để điều chế nano bạc. Một trong những phương pháp  truyền thống phổ biến được nhiều nghiên cứu đề cập là sử  dụng các tác nhân khử hóa học như hydrazine, sodium  borohydride, acid ascorbic... nhằm chuyển hóa ion  bạc thành bạc kim loại. Mặc dù thường tỏ ra hiệu quả,  nhưng phương pháp này vẫn có những hạn chế lớn, bao  gồm độc tính từ các tác chất sử dụng cũng như khó khăn  trong việc loại bỏ các tác chất trên.

     (2) Để tránh hoặc giảm thiểu ảnh hưởng của các chất  độc hại, gần đây giới khoa học đã bắt đầu áp dụng định  hướng của hóa học xanh trong việc điều chế nano bạc,  với hai tiêu chí luôn phải đảm bảo (vừa kinh tế, vừa thân  thiện với môi trường). Trong số các phương pháp hóa  học xanh, phương pháp điều chế nano bạc từ phản ứng  giữa tiền chất bạc với các vi chất hữu cơ hoặc chiết xuất  từ thực vật đang ngày càng cho thấy nhiều tiềm năng và  ưu thế do đây là những tác chất có giá thành thấp, hoạt  tính hóa học cao, quy trình sử dụng đơn giản và thân thiện  với môi trường. Nhờ sở hữu các thành phần có khả năng  khử sinh học như peptide, acid sorbic, acid citric, euphol,  polyhydroxy limonoid, acid ascorbic, acid retinoic, tannins  và acid ellagic, các nhà khoa học tin rằng có thể sử dụng  tảo, nấm và nhiều loại thực vật để điều  chế nano kim loại,  trong đó có nano bạc mà không cần bổ sung tác nhân khử. Ngoài ra, thành phần của thực vật thường hay chứa  các hoạt chất giúp làm bền hóa nano bạc mới được sinh ra  như protein, amino acid, enzyme, polysaccharide, tannin,  saponin... Trong nghiên cứu của mình, Kumar và các  cộng sự đã tổng hợp thành công các hạt nano bạc  hình cầu với đường kính 50-100 nm thông qua chiết xuất  từ cây mắt nhung (Alternanthera dentat) chỉ trong vòng 10  phút phản ứng. Những hạt nano bạc này thể hiện hoạt tính  kháng khuẩn đáng kể đối với Pseudomonas aeruginosa,  Escherichia coli, Klebsiella pneumonia và Enterococcus  faecal. Gần đây, thủy xương bồ (Acorus calamus,  hình 1), một loài thực vật sinh trưởng ở đầm lầy hoặc  những vùng nước lặng (Trung Quốc, Việt Nam, Ấn Độ,  Nhật Bản...) cũng được Nakkala và cộng sự dùng để tổng  hợp nano bạc. Kết quả khảo sát cho thấy, nano bạc  trong nghiên cứu này vừa có hoạt tính chống oxy hóa, vừa  có khả năng kháng khuẩn, thậm chí có thể chống ung  thư. Từ những nghiên cứu trên, có thể thấy, việc tổng hợp  nano bạc với các nguyên liệu thiên nhiên ứng với từng địa  phương đang trở thành một xu thế mới, hấp dẫn, nhận  được rất nhiều sự quan tâm của cộng đồng khoa học.

     (3) Các tác nhân khử trong chiết xuất nha đam Nha đam hay lô hội là tên gọi của  một loài cây mọng nước có nguồn gốc từ Bắc Phi vốn  có rất nhiều ứng dụng trong dược phẩm, thực phẩm và  mỹ phẩm nhờ sở hữu nhiều hoạt chất sinh học có khả  năng chống viêm, chống rạn da, chống tia tử ngoại cũng  như thúc đẩy khả năng hồi phục vết thương. Các nhà  khoa học cũng đã tìm ra nhiều thành phần như lignin,  hemicellulose, pectin có thể được sử dụng để khử ion  bạc. Gần đây, Zhang và cộng sự đã chỉ định cụ thể  hydroquinone trong chiết xuất nha đam có vai trò như một  tác nhân khử điển hình. Ngoài ra, những enzyme và  protein lớn tồn tại trong chiết xuất từ lá cây nha đam được  tin rằng có thể liên kết với các ion bạc, từ đó đóng vai trò  như những tác nhân tạo phức. Hơn nữa, các liên kết yếu  giữa các protein trong dung dịch còn giúp phát triển các  hạt nano bạc hình cầu, giúp hình thành các hạt nano bạc  đẳng hướng.  

     Điều chế nano bạc từ chiết xuất nha đam

     (4) Xuất phát từ những quan điểm trên, nhóm nghiên cứu  của Tiến sĩ Apiwat Chompoosor (Khoa Hóa học, Đại học  Ramkhamhaeng, Thái Lan) đã sử dụng chiết xuất từ lá  cây nha đam để tổng hợp các hạt nano bạc với kích thước  từ 70-192 nm bằng phương pháp thủy nhiệt. Đây là  phương pháp tổng hợp đơn giản cho phép đạt đồng thời  nhiệt độ cao và áp suất cao, vốn là những điều kiện cần  thiết cho phản ứng khử ion bạc thành bạc kim loại. Sản  phẩm sinh ra được nhóm nghiên cứu lần lượt tiến hành  đánh giá khả năng kháng khuẩn đối với hai loại vi khuẩn  S. epidermidis và P. aeruginosa.

     (5) Quá trình tổng hợp nano bạc trong nghiên cứu của  Tiến sĩ Chompoosor được thực hiện thông qua hai giai  đoạn. Đầu tiên, dung dịch chiết xuất nha đam được điều  chế từ 50 g lá nha đam đã được rửa và cắt mịn thành  những mẩu nhỏ. Các lá nha đam đã cắt này sẽ được đun  sôi trong nước cất 20 phút và được để nguội tự nhiên đến  nhiệt độ phòng. Sau đó, phần dung dịch được lọc và lưu  trữ trong tủ lạnh ở 4 o C để có được dung dịch chiết xuất.

     (6) Ở giai đoạn thứ hai, 0,3 mol AgNO 3  được hòa tan trong  20 ml nước cất rồi hòa với 20 ml dung dịch chiết xuất nha  đam đã được điều chế ở trên, khuấy đều ở nhiệt độ phòng  trong 30 phút. Hỗn hợp dung dịch này sau đó được rót vào  bình thủy nhiệt Teflon với dung tích 100 ml. Hệ Teflon sẽ  được gia nhiệt và duy trì ở nhiều nhiệt độ khác nhau, từ  100-200 o C trong vòng 6 giờ, rồi làm nguội từ từ đến nhiệt  độ phòng. Cuối cùng, dung dịch sau phản ứng được lọc  để thu được kết tủa dạng bột xám, kết tủa này sẽ được rửa  bằng nước cất và sấy khô ở 60 o C trong vòng 6 giờ để thu  được sản phẩm nano bạc. Cường   độ tương   đối 2 θ ( o )

     (7) Hầu hết tất cả peak tín hiệu có cường độ cao  đều thuộc về cấu trúc lập phương tâm diện của tinh thể  bạc, phù hợp với phổ tham chiếu JCPDS số 01-071-4613.  Tuy nhiên, chỉ có mẫu được điều chế ở nhiệt độ thủy nhiệt  200 o C mới có thành phần bạc tinh khiết. Ở các nhiệt độ  thấp hơn, phản ứng hóa học chuyển hóa bạc diễn ra với  tốc độ chậm hơn, vì vậy thời gian cần nhiều hơn 6 giờ để  xảy ra hoàn toàn, dẫn đến việc hình thành pha Ag 2 O với  hàm lượng thấp. Ở 100 o C, các hạt nano hình cầu chủ yếu  tồn tại với đường kính khoảng 70,7 nm. Kích thước này  lần lượt tăng lên 79,4 nm ở 150 o C và đạt gần 161,6 nm tại  o C. Như vậy, nhiệt độ thủy nhiệt không chỉ ảnh hưởng  trực tiếp đến thành phần pha mà còn ảnh hưởng đáng kể  đến hình thái của các hạt nano bạc.

     (8) Mặc dù khả năng kháng khuẩn của nano bạc đã được  thừa nhận rộng rãi, hoạt tính sinh học của nano bạc sản  xuất từ chiết xuất nha đam vẫn cần được kiểm chứng cụ thể.  Chính vì vậy, nhóm nghiên cứu của Tiến sĩ Chompoosor  đã tiến hành khảo sát khả năng kháng khuẩn của nano  bạc thông qua thí nghiệm ức chế sự phát triển của hai  loại vi khuẩn S. epidermidis và P. aeruginosa, vốn là hai  chủng vi khuẩn điển hình cho các chứng nhiễm khuẩn  kháng kháng sinh. Kết quả thí nghiệm được thể hiện qua  đường kính vòng kháng khuẩn được tạo ra trên đĩa petri có  chứa thạch dưỡng chất đồng thời với nano bạc và vi khuẩn  sau khi được ủ ở 37 o C trong vòng 24 giờ.  

     (9) Cả ba mẫu nano bạc đều cho thấy khả năng kháng  hai loại vi khuẩn hiệu quả. Trong đó, mẫu thủy nhiệt ở  100 o C có đường kính vòng kháng khuẩn đạt 3,65 cm, gần  gấp đôi so với đường kính của hai mẫu điều chế ở 150 và  200 o C. Như vậy, dù mẫu điều chế ở 100 o C không có thành  phần bạc tinh khiết nhưng nhờ nhiệt độ thấp, quá trình  thiêu kết diễn ra hạn chế đã giúp tạo ra các hạt nano bạc  kích thước nhỏ, sở hữu diện tích bề mặt riêng lớn, từ đó có  hoạt tính kháng khuẩn cao. Khi nhiệt độ thủy nhiệt tăng, kích thước hạt tăng khiến diện tích bề mặt riêng giảm, hoạt tính kháng khuẩn cũng giảm.  

     (10) Như vậy, bằng con đường hóa học xanh sử dụng chiết  xuất nha đam (loại thực vật có giá thành thấp, phong phú  trong tự nhiên), nhóm nghiên cứu của Tiến sĩ Chompoosor  đã điều chế thành công nano bạc với khả năng kháng  khuẩn hiệu quả, ngay cả đối với những loại khuẩn kháng  kháng sinh. Kết quả này cho thấy tiềm năng rất lớn của  việc ứng dụng các sản phẩm thiên nhiên trong tổng hợp  vật liệu, một hướng nghiên cứu chắc chắn sẽ được phát  triển mạnh trong tương lai.

   (Nguồn: “Tổng hợp nano bạc từ chiết xuất nha đam”, Lê Tiến Khoa, Tạp chí Khoa học & Công nghệ Việt Nam, số 11, năm 2017)

Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:

Bước tiến của con tôm thẻ chân trắng tại Thái Bình

      (1) Thái  Bình  bắt  đầu  nuôi  tôm  thẻ  chân  trắng  ở  vùng  nước  lợ  từ  năm  2010,  và  sau  đó  phong  trào  nuôi  tôm trên địa bàn tỉnh ngày càng phát  triển. Nhận thấy tiềm năng của đối  tượng này, từ năm 2012, được sự hỗ  trợ của Sở KH&CN Thái Bình, Công  ty TNHH Phương Nam đã triển khai  dự án “Ứng dụng tiến bộ KH&CN xây  dựng  mô  hình  ương  giống  và  nuôi  thương  phẩm  tôm  thẻ  chân  trắng  theo hướng công nghệ cao tại Thái  Bình”. Sau 2 năm thực hiện, doanh  nghiệp  Phương  Nam  đã  xây  dựng  thành công mô hình ương giống và  mô hình nuôi thương phẩm tôm thẻ  chân  trắng  phù  hợp  với  điều  kiện  sinh thái ven biển Thái Bình. Trong  đó, đáng ghi nhận là mô hình nuôi  thương  phẩm  tôm  thẻ  chân  trắng  trong nhà kính theo hướng ứng dụng  công nghệ cao.

      (2) Với  việc  ứng  dụng  công  nghệ  nuôi trong nhà kính kết hợp phương  thức “nuôi liên hoàn từ bể ương ra ao  nuôi thương phẩm”, Công ty TNHH  Phương  Nam  đã  đưa  từ  2  vụ  nuôi/ năm  lên  4  vụ  nuôi/năm,  đưa  năng  suất nuôi từ khoảng 1 kg/m 2  lên 2-3  kg/m 2  và đưa trọng lượng tôm thương  phẩm từ 70-75 con/kg lên 30-35 con/ kg chỉ sau 105 ngày nuôi.  

      (3) Việc  đưa  từ  2  vụ  nuôi  lên  4  vụ  nuôi/năm không đơn thuần mang lại  hiệu quả kinh tế từ việc tăng hệ số  vòng quay ao nuôi và vòng quay vốn  lưu động mà điều quan trọng là, 2 vụ  nuôi tăng thêm thực chất là 2 vụ nuôi  trái vụ nên đã tránh được tình trạng  “được  mùa  rớt  giá”. Đặc  biệt  ở  vụ  đông, để có tôm xuất bán vào dịp Tết  Nguyên đán, trong điều kiện thời tiết  đông giá, các tỉnh phía Bắc không thể  nuôi tôm theo phương thức cổ truyền. Nhờ ưu thế sản phẩm trái vụ nên tôm xuất bán vào dịp cuối năm thường có giá cao gấp rưỡi hoặc gấp đôi những  tháng  chính  vụ.  Cũng  nhờ  lợi  thế  công nghệ nuôi nhà kính, chủ động  việc kiểm soát nhiệt độ, môi trường  nên giảm thiểu được bệnh dịch, đảm  bảo an toàn sản xuất, giảm thiểu rủi  ro trong nuôi trồng, tạo điều kiện nuôi  thâm  canh  và  thâm  canh  cao,  chủ  động được thời điểm thu hoạch, nhờ  đó đồng thời giải quyết được các mục  tiêu là năng suất và chất lượng sản  phẩm, tiếp đến là giá cả, nguồn tiêu  thụ và cuối cùng là suất lợi nhuận trên  một đơn vị diện tích và đồng vốn đầu  tư. Nhu cầu của thị trường cho thấy, nếu kích  cỡ  tôm  thương  phẩm  tăng  gấp đôi thì giá bán cũng tăng gấp đôi.  Vì thế, đây là một trong những ưu việt  của phương thức nuôi tôm trong nhà  kính mà Công ty TNHH Phương Nam  và một số hộ nuôi đã thực hiện.

      (4) Việc  ứng  dụng  công  nghệ  nuôi  mới trong nhà kính đã cơ bản giải  quyết  được  vấn  đề  thời  vụ  và  năng  suất nuôi, song vấn đề chất lượng vệ  sinh  an  toàn  sản  phẩm  (đặc  biệt  là  vấn đề tồn dư kháng sinh trong tôm  nuôi) vẫn còn là một câu hỏi. Để giải  quyết  vấn  đề  này,  năm  2016,  Công  ty TNHH Phương Nam tiếp tục được  hỗ  trợ  thực  hiện  đề  tài  “Ứng  dụng  tiến bộ KH&CN vào nuôi tôm thương  phẩm  theo  hướng  VietGAP”.  Sau  2  năm thực hiện, Công ty đã thu được  nhiều kết quả về chỉ tiêu kinh tế - kỹ  thuật và những tiêu chí VietGAP được  chứng  nhận.  Các  hộ  tham  gia  thực  hiện mô hình đều tuân thủ theo quy  trình VietGAP. Môi trường ao nuôi ổn  định, sản phẩm nuôi đảm bảo vệ sinh  an  toàn  thực  phẩm,  đưa  chất  lượng  tôm nuôi lên một mốc mới, nhờ đó sản  phẩm tôm nuôi đã mở rộng được thị  phần tiêu thụ. Đặc biệt, đã xây dựng  được quy trình nuôi tôm thương phẩm  theo tiêu chuẩn VietGAP phù hợp với  điều  kiện  Thái  Bình,  làm  cơ  sở  cho  việc đẩy mạnh ứng dụng ra diện rộng  cho các hộ nuôi trồng ở hai huyện ven  biển của tỉnh (Tiền Hải và Thái Thụy),  tạo tiền đề cho việc xây dựng vùng  tôm nguyên liệu Thái Bình, đảm bảo  tiêu chuẩn xuất khẩu sang một số thị  trường khó tính.

      (5) Không dừng lại ở đó, qua nghiên  cứu  học  hỏi  kinh  nghiệm  nuôi  tôm  thẻ chân trắng trên thế giới cho thấy,  các nước như Hoa Kỳ, Thái Lan... đã  và đang áp dụng kỹ thuật nuôi thâm  canh  công  nghệ  cao  hiện  đại  bằng  việc áp dụng công nghệ xử lý nước  nhanh, quy trình nuôi tuần hoàn khép  kín, bùn thải phát sinh trong quá trình  nuôi được thu gom và xử lý triệt để  bằng  công  nghệ  biogas...  Chính  vì  vậy,  đầu  năm  2018,  Công  ty  TNHH  Phương Nam tiếp tục thực hiện dự án  “Ứng dụng công nghệ xử lý nước và  công nghệ biogas xây dựng mô hình  nuôi tôm thẻ chân trắng cao sản theo  hướng phát triển bền vững”.  

      (6) Mục tiêu của dự án là nghiên cứu  xây dựng mô hình nuôi tôm thẻ chân  trắng cao sản theo hướng phát triển  bền vững nhờ ứng dụng tổng hợp các  quy trình công nghệ nuôi tôm, công  nghệ xử lý chất thải tiên tiến nhất hiện  nay. Đây là một  bước tiến mới, mang  tính  đột  phá  về  KH&CN  trong  nuôi  tôm thẻ chân trắng tại địa phương nói  riêng và trên cả nước nói chung.

      (7) Điểm nổi bật của mô hình là nuôi  khép kín, không thay nước, không bị  ảnh hưởng bởi dịch bệnh và các yếu  tố  gây  ô  nhiễm  từ  môi  trường  ngoài  xâm nhập vào, điều này giúp cho việc  kiểm soát các yếu tố môi trường và  dịch bệnh được thuận lợi và dễ dàng,  hạn  chế  rủi  ro  trong  quá  trình  nuôi.  Nước thải và bùn thải trong quá trình  nuôi được tận dụng và xử lý triệt để  nên tiết kiệm chi phí sản xuất, không  gây ô nhiễm môi trường, không gây  phát tán mầm bệnh, hạn chế sự phát  sinh và lây lan dịch bệnh.

      (8) Chỉ chưa đầy 1 năm thực hiện, kết  quả của dự án cho thấy, yếu tố môi  trường nuôi được giải quyết một cách  toàn diện, cho phép nâng cao mật độ  nuôi, đưa năng suất nuôi từ 1-2 kg/m 2 lên mức 4-5 kg/m 2  (nuôi thâm canh).  Kết quả này đã đưa ngành nuôi tôm ở  hai huyện ven biển Tiền Hải và Thái  Thụy lên một tầm cao mới, góp phần  khai  thác  tốt  hơn  tiềm  năng  kinh  tế  biển Thái Bình, là mô hình điểm cho  nhiều địa phương tham quan, học tập.  

      (9) Qua quá trình triển khai các đề tài  nghiên cứu khoa học ứng dụng trong  sản xuất cho thấy, doanh nghiệp đã  nhận thức rõ về vai trò của KH&CN  trong phát triển sản xuất. Không chỉ  dừng lại ở đó, việc áp dụng các tiến bộ  KH&CN đã giúp nâng cao kiến thức  nuôi  tôm  thẻ  chân  trắng  cho  người  nuôi tôm, nâng cao hiệu quả sản xuất,  đảm  bảo  phát  triển  bền  vững,  góp  phần tăng trưởng về giá trị cho ngành  và cho địa phương.

      (10) Bên cạnh đó, quá trình triển khai  thực hiện các đề tài đã giúp nâng cao  trình độ nghiên cứu khoa học và kinh  nghiệm thực tế về kỹ thuật nuôi tôm  thẻ chân trắng cho các kỹ thuật viên  của  doanh  nghiệp  Phương  Nam  nói  riêng, người dân ven biển nói chung.  Từ kết quả của đề tài đã vận dụng tốt  trong sản xuất, giúp nâng cao vị thế  của  doanh  nghiệp,  người  lao  động  có việc làm ổn định, mức sống được  nâng cao, góp phần làm giàu cho quê  hương, đất nước.

      (11) Về  mặt  môi  trường,  các  kết  quả  nghiên cứu khoa học đã giúp cho môi  trường tại các khu vực nuôi không bị  ô nhiễm, đảm bảo phát triển sản xuất  lâu dài, bền vững. Đóng góp tích cực cho tăng trưởng chung của ngành và  của địa phương, góp phần thực hiện  thành công Đề án phát triển nuôi tôm  và Đề án tái cơ cấu nông nghiệp đã  được UBND tỉnh phê duyệt  

(Nguồn: “Bước tiến của con tôm thẻ chân trắng tại Thái Bình”, Nguyễn Anh Tuấn, Trần Văn, Tạp chí Khoa học & Công nghệ Việt Nam, số 12, năm 2018)

Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:

Đột phá mới trong điều trị xuất huyết hậu sản

     (1) Băng huyết được giới chuyên  môn cho là hiện tượng khi lượng  máu chảy từ đường sinh dục của  sản  phụ  trong  vòng  24  giờ  sau  sinh  lớn  hơn  500  ml  hoặ c  mất  máu lớn hơn 1% trọng lượng cơ  thể, hoặc một lượng máu mất bất  kỳ nhưng ảnh hưởng đến huyết  động học.  Mức độ nặng của băng  huyết  không  chỉ  phụ  thuộc  vào  lượng máu mất mà còn phụ thuộc  rất nhiều vào thể trạng của sản  phụ trước khi bị băng huyết.  

    (2) “Mẹ tròn con vuông” là niềm  mong mỏi và là hạnh phúc của  mọi  gia  đình  khi  có  sản  phụ  đi  sinh.  Nhưng  quá  trình  sinh  nở  luôn là nỗi lo canh cánh của rất  nhiều  bà  mẹ  mang  thai  và  gia  đình họ. Mỗi ngày, trên thế giới  có hàng nghìn bà mẹ tử vong do  tai  biến  sản  khoa  và  mỗi  năm  có  hàng  triệu  phụ  nữ  không  có  cơ hội sống để hoàn thành thiên  chức làm mẹ, đặc biệt là sản phụ  ở những nơi có điều kiện địa lý,  kinh tế - xã hội khó khăn, an sinh  xã  hội  kém  và  thiếu  thốn  các  điều kiện sống cơ bản. Cho đến  nay,  băng  huyết  vẫn  được  xem  là nguyên nhân gây tử vong cao  nhất trong 5 nguyên nhân tử vong  hàng đầu đối với sản phụ.

     (3) Mặc dù những tiến bộ trong y  học đã góp phần làm giảm tỷ lệ  tử vong do băng huyết, nhưng hai  từ này luôn là nỗi ám ảnh không  chỉ với những phụ nữ sinh thường  và những người thân của họ mà  còn cả với nhiều chuyên gia sản  khoa. Theo WHO, hiện có khoảng  70.000 phụ nữ tử vong mỗi năm vì  xuất huyết hậu sản, điều này  cũng  có  nghĩa  là  tăng  nguy  cơ  con của họ cũng chết trong vòng  một tháng. Đối với Việt Nam, tỷ lệ  băng huyết sau sinh chiếm 3-8%  tổng số sinh.  

     (4) Với  những  nước  đang  phát  triển, đặc biệt là những quốc gia  nghèo, thì tỷ lệ phụ nữ tử vong  do  băng  huyết  lại  càng  cao  do  nguyên nhân cơ bản là cuộc sống  khó khăn, phụ nữ mang thai phải  làm  việc  nặng  nhọc,  thậm  chí  lao  động  trong  môi  trường  độc  hại; chế độ nghỉ ngơi không đảm  bảo; chế độ ăn uống thiếu dinh  dưỡng... Cơ sở y tế nghèo nàn,  không  đảm  bảo  vệ  sinh,  thiếu  thốn các trang thiết bị và thuốc  điều trị khiến việc cấp cứu và điều  trị những phụ nữ bị xuất huyết hậu  sản trở nên khó khăn hơn bao giờ  hết. Hiện nay, WHO khuyến cáo  dùng oxytocin là thuốc lựa chọn  đầu tiên để ngăn ngừa chảy máu  quá mức sau khi sinh. Tuy nhiên,  oxytocin  phải  được  bảo  quản  ở  nhiệt  độ  2-8 o C.  Đây  thực  sự  là  một công việc khó khăn ở nhiều  quốc gia nghèo. Bởi vậy mà rất  nhiều sản phụ không có cơ hội  được tiếp cận nguồn thuốc này.  Hoặc nếu có được loại thuốc này  trong tay thì hiệu lực của thuốc đã  bị giảm đáng kể do tiếp xúc với  nhiệt  độ  cao bên  ngoài vì  thiếu  thốn trang thiết bị bảo quản cần  thiết.

     (5) Vừa  qua,  WHO  đã  nghiên  cứu  thành  công  một  loại  thuốc  với  công  thức  mới  (có  tên  là  carbetocin) có thể giúp ngăn ngừa  băng huyết ở phụ nữ sau khi sinh.  Nghiên  cứu  được  công  bố  trên  Tạp chí Y học New England [3].  Thuốc carbetocin được bảo quản  ở môi trường bình thường (30 o C,  độ ẩm tương đối là 75%) với hạn  sử dụng lên tới 3 năm. TS Tedros  Adhanom  Ghebreyesus  -  Tổng  giám đốc WHO nhận định: “Đây  là một bước tiến vượt bậc của y  học, giúp cứu sống hàng vạn bà  mẹ và trẻ sơ sinh mỗi năm”.  

     (6) Trong  nghiên  cứu  của  mình,  các nhà khoa học đã tiến hành  một  cuộc  thử  nghiệm  lâm  sàng  đối  chứng  ngẫu  nhiên  (RCT)  với  quy  mô  lớn  (29.645  phụ  nữ  sinh  thường)  đến  từ  23  bệnh  viện  ở  các  quốc  gia:  Argentina,  Ai Cập, Ấn Độ, Kenya, Nigeria,  Singapore,  Nam  Phi,  Thái  Lan,  Uganda và Vương quốc Anh. Mỗi  phụ  nữ  được  tiêm  ngẫu  nhiên  một liều carbetocin hoặc oxytocin  ngay  sau  khi  sinh  con.  Nghiên  cứu  cho  thấy,  cả  hai  loại  thuốc  đều có hiệu quả như nhau trong  việc ngăn ngừa băng huyết sau  khi sinh.

     (7) Để có được đánh giá so sánh  chính  xác  phương  pháp  thử  nghiệm  không  thấp  kém  hơn  (non-inferiority) chứng minh phương  pháp điều trị mới, cá c nhà khoa  học  đã  đảm  bảo  các  điều  kiện  bảo  quản,  đặc  biệt  là  nhiệt  độ  của  oxytocin,  để  mỗi  loại  thuốc  đạt  hiệu  quả  tối  đa  khi  điều  trị.  Thử  nghiệm  được  tiến  hành  với  việc sử dụng carbetocin ổn định  nhiệt  trong  môi  trường  thực  tế,  nơi oxytocin có thể bị thoái hóa  do tiếp xúc với nhiệt độ cao hơn.  Kết  quả  thử  nghiệm  cho  thấy,  tác  dụng  và  hiệu  quả  điều  trị  với  carbetocin  không  thua  kém  oxytocin:  tần  suất  mất  máu  ít  nhất 500 ml hoặc sử dụng thêm  thuốc  co  hồi  tử  cung  là  14,5%  ở  nhóm  carbetocin  và  14,4%  ở  nhóm oxytocin; tần suất mất máu  ít nhất 1.000 ml là 1,51% ở nhóm  carbetocin  và  1,45%  ở  nhóm  oxytocin. Việc sử dụng các thuốc  co hồi tử cung bổ sung, can thiệp  để  ngừng  chảy  máu  và  các  tác  dụng phụ không khác biệt đáng  kể giữa hai nhóm. “Sự phát triển  của một loại thuốc để ngăn ngừa  xuất huyết hậu sản vẫn tiếp tục  có hiệu quả trong điều kiện nóng  và ẩm là tin rất tốt cho hàng triệu  phụ  nữ  sinh  con  ở  các  nơi  trên  thế giới mà không được tiếp cận  với các thiết bị bảo quản tốt”, TS  Metin G ü lmezoglu - Viện Nghiên  cứu  Sức  khỏe  và  Sinh  sản  của  WHO cho biết.

     (8) Với  sự  ra  đời  của  thuốc  mới  carbetocin, tới đây, những phụ nữ  ở các khu vực hẻo lánh và thiếu  thốn sẽ không còn bị ám ảnh bởi  thần chết mang tên “băng huyết”  rình  rập.  WHO  đang  chuẩn  bị  bước tiếp theo là xem xét và phê  duyệt theo quy định của các quốc  gia  để  đưa  carbetocin  vào  sử  dụng trong điều trị.

     (9) Điều  thú  vị  hơn  là  mới  đây,  một  nghiên  cứu  được  thực  hiện  bởi các nhà khoa học thuộc Đại  học  Birmingham  (Vương  quốc  Anh) cũng đã chỉ ra rằng, việc  ra  đời  những  loại  thuốc  mới  sẽ  giúp ngăn chặn hiệu quả những  tai biến nguy hiểm có thể xảy ra  đối với các sản phụ. Công trình  nghiên  cứu  của  họ  đã  đưa  ra  một giải pháp mới, đó là kết hợp  các loại thuốc với nhau để tăng  hiệu  quả  điều  trị.  Chẳng  hạn  như  ergometrine  với  oxytocin,  misoprostol với oxytocin hay điều  trị  bằng  carbetocin  sẽ  hiệu  quả  hơn  rất  nhiều  nếu  chỉ  sử  dụng  oxytocin như hiện nay. Phân tích  dữ liệu từ 140 cuộc thử nghiệm  lâm  sàng  khác  nhau  liên  quan  đến hơn 88.000 phụ nữ, các nhà  khoa  học  đã  có  được  cách  so  sánh chính xác đối với hiệu quả  điều trị của tất cả các loại thuốc  này.

(Nguồn: “Đột phá mới trong điều trị xuất huyết hậu sản”, Nguyễn Minh Đức, Tạp chí Khoa học & Công nghệ Việt Nam, số 12, năm 2018)

Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:

Chế tạo thành công thiết bị laze ứng dụng trong LIDAR đo nồng độ khí ô zôn dựa trên sáng chế được bảo hộ

      (1) Khí ô zôn cùng với khói, bụi  là  thành  phần  chính  làm  giảm  chất  lượng  không  khí. Đặc biệt tại các đô thị  lớn, các khu công nghiệp, đây là một  tác nhân chính gây ảnh hưởng đến  sức khỏe con người, sự sống còn của  các sinh vật, hiệu ứng nhà kính và  nhiều vấn đề khác. Vì thế việc xác  định nồng độ, sự phân bố của ô zôn  trong khí quyển là hết sức cần thiết,  nhất là ở lớp khí quyển thấp.

       (2)  Các  phương  tiện  theo  dõi  hiện  nay chủ yếu là bóng thám không với  đầu dò ô zôn điện hóa, máy bay, vệ  tinh và LIDAR. Trong đó, LIDAR là kỹ thuật đo đạc xa dùng bức xạ laze có  khả năng quan trắc các đặc trưng vật  lý của khí quyển theo không gian (xa  tới vài chục km) và thời gian (24/7).  Do vậy, để xác định nồng độ và sự phân bố của khí ô zôn, kỹ thuật đo  LIDAR vi sai (DIAL) đã được sử dụng  hiệu quả. Công cụ không thể thiếu  của kỹ thuật này là các laze có độ  đơn sắc cao, điều khiển được bước  sóng. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là cần  phải có một hệ laze đơn sắc có thể  lựa chọn được bước sóng thích hợp  theo yêu cầu.  

       (3) Sáng chế số 10311 đề cập đến  thiết kế và cấu tạo của một máy phát  đơn xung laze có độ rộng phổ tới hạn  dựa trên nguyên tắc tổ hợp hai hiệu  ứng  phản  hồi  phân  bố  năng  lượng  và  dập  tắt  dao  động  trong  buồng  cộng hưởng. Điểm khác biệt  trong  sáng  chế  10311  là  sử  dụng  yếu  tố  phân  chia  chùm  bơm  bằng  một gương kép làm với nhau một góc  30 0 , nhờ vậy có thể phát laze với mọi  bước sóng bơm mà không cần thêm  bất cứ một cơ cấu nào khác ngoại trừ  việc tính toán bước sóng laze.

       (4) Để hiện thực hóa sáng chế thành  sản phẩm có khả năng áp dụng vào  đời sống, Viện Vật lý (Viện Hàn lâm  Khoa học và Công nghệ Việt Nam)  đã  đề  xuất  và  được  Bộ  Khoa  học  và Công nghệ phê duyệt thực hiện  dự án “Áp dụng sáng chế máy phát  laze màu phản hồi phân bố dập tắt  theo văn bằng bảo hộ số 10311 ngày  23/5/2012  ứng  dụng  trong  nghiên  cứu khoa học, đời sống và kiểm soát  ô  nhiễm”  (thuộc  Chương  trình  phát  triển tài sản trí tuệ giai đoạn 2016- 2020). Dự án được thực hiện trong 2  năm, với mục tiêu hiện thực hóa một  sáng  chế  công  nghệ  cao  trở  thành  sản phẩm có khả năng áp dụng vào  thực tiễn; ứng dụng thử nghiệm sản  phẩm được sản xuất theo sáng chế  vào kiểm soát ô nhiễm môi trường.

       (5) Sau  gần  2  năm  thực  hiện,  dự  án đã hoàn thành tốt các nội dung  đề ra như: thiết kế các chi tiết máy  của hệ đo trên cơ sở tính toán, hiệu  chỉnh  các  kích  thước  phù  hợp  theo  các thông số đưa ra trong sáng chế;  thử  nghiệm  mô  hình  thiết  bị  trong  phòng thí nghiệm; gia công các chi  tiết  máy;  lắp  ráp  các  chi  tiết  thành  phần, hoàn chỉnh đồng bộ đầu phát  và  bộ  khuếch  đại;  viết  phần  mềm  điều  khiển  lựa  chọn  bước  sóng  và  chạy thử trên hệ máy; khảo sát các  thông số laze, hiệu chỉnh laze... Trên  cơ sở đó, các nhà khoa học của Viện  Vật lý đã chế tạo thành công hệ máy  phát laze có độ đơn sắc cao (độ bán  rộng phổ  5 picô mét), có thể lựa bước  sóng  tùy  ý  trong  khoảng  560-610  nm, xung ngắn (độ bán rộng xung 12  picô giây), công suất xung đạt tới cỡ  megaoát, có thể nhân đôi tần số (tức  là chia đôi bước sóng) trong khoảng  280-305  nm  ứng  dụng  trong  quan  trắc  kiểm  soát  ô  nhiễm  môi  trường.  

       (6) Máy được vận hành theo nguyên  lý: khi bước sóng laze bơm nằm trong  vùng hấp thụ của chất màu được sử  dụng làm môi trường hoạt chất, hai  chùm bơm thành phần tạo thành hệ  cách  tử  động  theo  nguyên  lý  giao  thoa ánh sáng trên bề mặt môi trường  hoạt chất gây nên hiệu ứng laze. Khi  thay đổi hằng số cách tử bằng cách  thay đổi góc tạo vân giao thoa sẽ cho  phép lựa chọn bước sóng theo yêu  cầu. Các lựa chọn này có thể sử dụng  chương trình điều khiển trên máy tính  hoặc lựa chọn bằng tay. Kết quả thử  nghiệm ứng dụng hệ laze đã chế tạo  để đo đạc mức độ ô nhiễm khí ô zôn  tại khí quyển tầng thấp (dưới 3,5 km)  ở Hà Nội cho thấy, máy hoạt động ổn  định ở mức  ± 5% về thăng giáng năng  lượng,  0,005 ± 0,001  nm  về  độ  rộng  phổ, sai số về bước sóng đạt  ± 0,05  nm  với  chế  độ  hoạt  động  liên  tục.  Đặc biệt, phần mềm điều khiển lựa  chọn bước sóng được nhúng trong bộ  vi điều khiển vừa điều khiển trực tiếp  bằng bảng điều khiển trên mặt máy,  vừa có thể kết nối với máy tính rất  thuận tiện cho người sử dụng.

       (7) Theo  đánh  giá  của  các  chuyên  gia, hiệu quả khoa học của dự án là  rất rõ nét, khi lần đầu tiên Việt Nam  chế  tạo  được  một  thiết  bị  laze  ứng  dụng trong kiểm soát môi trường có  các  đặc  tính  đặc  biệt,  với  giá  thấp  hơn nhiều so với sản phẩm cùng loại  trên thị trường. Khả năng thương mại  hóa của sản phẩm cao do nhu cầu  sử  dụng  các  thiết  bị  đo  đạc,  đánh  giá  các  thông  số  môi  trường,  phục  vụ công tác quan trắc và kiểm soát ô  nhiễm môi trường ở nước ta hiện nay  là  rất  lớn.  Đặc  biệt,  sản  phẩm  của  dự án sử dụng phương pháp mới, áp  dụng trong thực tế sẽ mang lại nhiều  ưu điểm so với phương pháp truyền  thống như quan trắc liên tục hoặc bất  kỳ thời điểm theo yêu cầu, độ chính  xác  của  phương  pháp  đo  thông  số  môi trường cao, dễ dàng kiểm soát  các yếu tố gây ra sai số của phép đo,  thời gian đo ngắn...

       (8) Bên cạnh hiệu quả về mặt khoa  học, kinh tế và môi trường, việc chế  tạo thành công một thiết bị công nghệ  cao dựa trên một sáng chế của người  Việt đã góp phần đưa các tài sản trí  tuệ đóng góp vào quá trình phát triển  kinh tế - xã hội, đồng thời làm tiền  đề cho việc ứng dụng các sáng chế,  giải pháp hữu ích trong và ngoài nước  không được bảo hộ tại Việt Nam vào  sản xuất. Thành công của dự án một  lần nữa cho thấy sự đóng góp hiệu  quả của Chương trình phát triển tài  sản trí tuệ vào phục vụ đời sống và  sản xuất.

(Nguồn: “Chế tạo thành công thiết bị laze ứng dụng trong LIDAR đo nồng độ khí ô zôn dựa trên sáng chế được bảo hộ”, Nguyễn Văn Mạnh, Tạp chí Khoa học & Công nghệ Việt Nam, số 12, năm 2018)

Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:

Trị liệu miễn dịch trong điều trị dị ứng

(1) Các bệnh dị ứng rất phổ biến  ở  các  nước  phát  triển và đang có xu thế  tăng  lên  hàng  năm.  Ở các nền kinh tế đang phát triển,  mặc dù tỷ lệ người mắc bệnh dị ứng  thấp hơn nhưng cũng có xu hướng  gia tăng. Ở Việt Nam, tuy chưa có  thống kê cụ thể nhưng số người mắc  bệnh này được phát hiện ngày càng  nhiều. Lâu nay, hầu hết các thuốc  chữa trị các bệnh dị ứng mới chỉ tập  trung vào điều trị triệu chứng, chỉ có  tác dụng chữa trị trong một thời gian  nhất định. Các biện pháp chữa trị  can thiệp dựa vào cơ chế hình thành  và  phát  triển  của  bệnh  hiện  đang  được tập trung nghiên cứu và ứng  dụng.  Trong  đó,  trị  liệu  miễn  dịch  là  một  phương  pháp  được  nghiên  cứu sâu rộng và hứa hẹn nhiều tiềm  năng trong tương lai gần. 

Phản ứng quá mức  của  cơ  thể  chúng  ta  trước  những  dị  nguyên  vô  hại  như:  phấn  hoa,  lông  chó  mèo,  mạt  bụi  nhà...  Các  loại bệnh dị ứng thường gặp là hen  suyễn,  viêm  mũi,  viêm  da,  dị  ứng  thực  phẩm,  sốc  phản  vệ...

(3) Theo cơ chế phản ứng miễn dịch  và sự tham gia khác nhau giữa các  thành phần của hệ miễn dịch, người  ta phân ra 4 loại phản ứng dị ứng  khác nhau. Tuy nhiên, các bệnh dị  ứng phổ biến thường gặp và trị liệu  miễn dịch nhắm vào là loại 1 (phản  ứng quá mẫn tức thì) và loại 4 (phản  ứng quá mẫn muộn). Cơ chế miễn  dịch của dị ứng về cơ bản được chia  thành 2 giai đoạn:  1- Mẫn cảm; 2-  Phản ứng dị  ứng.  Khi chúng ta tiếp  xúc lần thứ 2 với dị nguyên sẽ gây  ra phản ứng cấp tính dẫn đến các  triệu chứng dị ứng như giãn mạch,  co thắt phế quản, tiêu chảy, buồn  nôn. Phản ứng dị ứng muộn thường  xảy ra trong 4-6 tiếng sau khi tiếp  xúc dị nguyên và thường gây ra các  triệu chứng như khó thở, ho, đờm,  phù nề. Nếu bệnh nhân tiếp xúc với  các dị nguyên trong thời gian dài có  thể gây ra phản ứng mạn tính với  các triệu chứng như: xơ hóa đường  hô hấp, tăng sản tế bào đờm. Trên  thực tế, bệnh nhân có thể biểu hiện  các bệnh cảnh khác nhau khi tiếp  xúc với dị nguyên, như: mắt (viêm  kết mạc dị ứng), đường hô hấp trên  (viêm  mũi  dị  ứng),  đường  hô  hấp  dưới  (hen  suyễn),  da  (viêm  da  cơ  địa)... Đối với mỗi bệnh cảnh dị ứng,  bệnh  nhân  có  thể  được  chỉ  định  dùng  thuốc  kháng  histamine  hoặc  corticosteroids dạng hít hoặc dạng  bôi.  

(4) Trong phần lớn các trường hợp,  triệu  chứng  dị  ứng  sẽ  được  kiểm  soát, tuy nhiên, có một nhóm bệnh  nhân  vẫn  sẽ  tiềm  ẩn  nguy  cơ  tái  phát khi tiếp xúc lại với dị nguyên,  do vẫn tồn tại những tế bào T ghi  nhớ trong cơ thể. AIT có thể được  áp dụng để thay đổi cách hệ miễn  dịch đáp ứng với dị nguyên.  

(5) Các  nhà  khoa  học  cũng  phát  hiện ra rằng, hệ miễn dịch của con  người  có  thể  được  huấn  luyện  để  nhận biết các dị nguyên có hại và  vô hại, từ đó ghi nhớ và những lần  tiếp xúc sau không gây ra phản ứng  miễn dịch. Đó cũng chính là cơ chế  cơ bản của trị liệu miễn dịch và dẫn  tới áp dụng phương pháp AIT.

(6) Gần đây, AIT  đã  được  nghiên  cứu và ứng dụng rộng rãi trên toàn  thế giới với những kết quả đáng ghi  nhận.  Nguyên  tắc  của  AIT  là  đưa  vào cơ thể người bệnh một lượng dị  nguyên với liều lượng tăng dần từ  thấp đến cao, đến khi đạt một nồng  độ nhất định hiệu quả trong việc tạo  ra hiện tượng dung nạp miễn dịch  của  cơ  thể  đối  với  loại  dị  nguyên  đó. Nhờ vào đặc tính huấn luyện hệ  miễn dịch của cơ thể quen dần với  sự tồn tại của dị nguyên, AIT vừa  giúp làm giảm triệu chứng, vừa giúp  ngăn  ngừa  tái  phát  về  sau,  kể  cả  khi tiếp xúc với dị nguyên. Cơ chế  tạo  ra  tình  trạng  dung  nạp  miễn  dịch của AIT khá phức tạp và vẫn  còn đang được nghiên cứu. Các  nghiên cứu cho thấy, ở những bệnh  nhân đạt được dung nạp miễn dịch,  hệ miễn dịch có xu hướng chuyển  đổi từ đáp ứng tế bào T hỗ trợ loại  2 (Th2 - T helper cell type-2) sang  đáp ứng miễn dịch tế bào T hỗ trợ  loại  1  (Th1).  Đáp  ứng  miễn  dịch  theo hướng Th2 sẽ gây ra tình trạng  dị  ứng,  do  đó,  giảm  đáp  ứng  Th2  sẽ giúp triệu chứng được cải thiện.  Bên  cạnh  đó,  tế  bào  T  điều  hòa  được sinh ra và sản xuất các hóa  chất trung gian kháng viêm, ví dụ  interleukin-10  (IL-10),  yếu  tố  tăng  trưởng  chuyển  đổi  b  (transforming  growth factor-b). IL-10 có tác dụng  làm giảm kháng thể IgE (tăng dị ứng)  và  tăng  kháng  thể  IgG4  (giảm  dị  ứng), nhờ đó làm giảm sản xuất các  hóa chất trung gian từ dưỡng bào,  bạch cầu ái toan và tế bào T. Cùng  với đó, AIT còn giúp hạn chế kết tập  tế bào bạch cầu ái toan, dưỡng bào,  bạch cầu ái kiềm ra ngoài da hoặc  niêm mạc và làm giảm tiết hóa chất  trung gian gây viêm từ các tế bào  này.     

(7) Hiện  nay,  AIT  được  dùng  bằng  đường  tiêm,  viên  ngậm  dưới  lưỡi,  tiêm  hạch  bạch  huyết,  miếng  dán  ngoài  da.  Điều  trị  miễn  dịch  dưới  da  (subcutaneous  immunotherapy  treatment  -  SCIT)  và  điều  trị  miễn  dịch  dưới  lưỡi  (sublingual  immunotherapy  treatment  -  SLIT)  là hai phương pháp phổ biến nhất  thường được sử dụng. Khi được chỉ  định áp dụng SCIT, bệnh nhân sau  khi được tiêm dị nguyên cần được  theo dõi tại cơ sở y tế có khả năng  xử lý khi có sốc phản vệ.

(8) Có  thể  nói,  áp  dụng  AIT  trong  điều trị hen suyễn và viêm mũi dị  ứng/viêm kết mạc dị ứng đã được  các nhà khoa học ở nhiều quốc gia  nghiên cứu. Trong mọi trường hợp,  chỉ định của AIT đều phải cân nhắc  dựa  trên  triệu  chứng  dị  ứng,  kèm  theo kết quả cận lâm sàng chứng  minh có sự tồn tại của các IgE đặc  hiệu (specific IgE - sIgE) đối với loại  dị  nguyên  tương  ứng  gây  ra  bệnh  cảnh lâm sàng cho bệnh nhân. AIT  được chỉ định dùng cho bệnh nhân  hen  suyễn,  viêm  mũi  dị  ứng/viêm  kết mạc dị ứng có kèm hoặc không  kèm  hen  suyễn,  trong  các  trường  hợp như: bệnh nhân có triệu chứng  không được kiểm soát tốt bằng các  phương pháp thông thường (thuốc,  hạn chế tiếp xúc dị nguyên); bệnh  nhân cần duy trì liều thuốc cao và/ hoặc phải kết hợp nhiều loại thuốc  khác nhau để duy trì tình trạng ổn  định; đa mẫn cảm với nhiều loại dị  nguyên; viêm da cơ địa kèm dị ứng  với dị nguyên không khí, bệnh nhân  có phản ứng toàn thân với vết cắn  của côn trùng kèm sIgE kháng lại  dị nguyên của côn trùng, ví dụ với  các loại ong... Còn các trường hợp  chống chỉ định như: bệnh nhân có  hen suyễn nặng hoặc không kiểm  soát;  bệnh  nhân  có  bệnh  lý  tim  mạch nặng kèm theo (bệnh mạch  vành không kiểm soát, nhồi máu cơ  tim  mới,  loạn  nhịp,  tăng  huyết  áp  không  kiểm  soát...);  bệnh  nhân  sử  dụng  thuốc  b-blockers  (chống  chỉ  định tuyệt đối khi thực hiện AIT cho  dị ứng với dị nguyên không khí và  chống chỉ định tương đối với dị ứng  côn trùng) do nguy cơ làm tăng sốc  phản vệ kháng trị. Ngoài ra, thuốc  ức chế men chuyển đổi angiotensin  cũng  cần  được  cân  nhắc  để  tạm  ngưng đối với các bệnh nhân thực  hiện AIT cho dị ứng côn trùng, hoặc  dị ứng với đa dị nguyên. Trong một  số  trường  hợp  đặc  biệt,  AIT  cần  được cân nhắc cẩn trọng đối với trẻ  nhỏ dưới 6 tuổi; người lớn tuổi, phụ  nữ có thai, và bệnh nhân có bệnh  ác tính, suy giảm miễn dịch hoặc tự  miễn.   

(9) Những dữ liệu từ các thử nghiệm  lâm  sàng  cho  thấy  hiệu  quả  của  AIT trong việc cải thiện chất lượng  sống,  chức  năng  phổi,  giảm  liều  dùng  corticosteroid,  tần  suất  cơn  kịch  phát,  số  lần  đo  chức  năng  phổi. Tuy nhiên, hiệu quả cải thiện triệu chứng lâu dài (sau khi kết thúc  phác đồ điều trị một năm) chỉ được  chứng minh trong một số ít nghiên  cứu như đã đề cập. Mặc dù tương  đối  an  toàn,  AIT  vẫn  có  nguy  cơ  gây  phản  ứng  phản  vệ  cho  bệnh  nhân, do đó nên cân nhắc đối với  từng bệnh nhân, tùy theo độ nặng  của triệu chứng, liều đang sử dụng  để kiểm soát triệu chứng, tác dụng  phụ do thuốc và theo mong muốn  của bệnh nhân. AIT nên được thực  hiện bởi các chuyên gia y tế (bác sĩ,  điều dưỡng) đã được huấn luyện về  dị ứng, tại các cơ sở y tế có trang  thiết  bị  đầy  đủ  (đối  với  SCIT)  và  bệnh nhân đã được cung cấp đầy  đủ  thông  tin  về  các  tác  dụng  phụ  (đối với SLIT).  

(10) Hiện nay, với tỷ lệ tăng dần của  các bệnh lý hen suyễn, dị ứng tại  Việt  Nam,  AIT  sẽ  là  một  phương  pháp điều trị cần thiết và khả thi đối  với  bệnh  nhân,  nhằm  duy  trì  chất  lượng  cuộc  sống khỏe mạnh.  Bên  cạnh  đó,  chúng  ta  cần  thực  hiện  khảo sát về tần suất dị nguyên, các  nghiên  cứu  thử  nghiệm  lâm  sàng  đánh  giá  hiệu  quả,  tác  dụng  phụ  của AIT trên bệnh nhân ở Việt Nam.  Bên cạnh đó, vì mỗi nước hay mỗi  vùng  có  thời  tiết,  hệ  sinh  thái  và  thảm thực vật khác nhau nên nhiều  dị nguyên và kháng nguyên mang  tính chất vùng, miền khác nhau. Do  đó, nên theo hướng nghiên cứu và  xác  định  đặc  điểm  tính  chất,  đặc  thù các kháng nguyên thường gây  dị  ứng,  từ  đó  có  các  nghiên  cứu  sâu để sản xuất các kháng nguyên  tinh sạch đủ chất lượng để sử dụng  trong xét nghiệm cũng như trong trị  liệu miễn dịch cho các bệnh nhân  dị ứng.    

(Nguồn: “Trị liệu miễn dịch trong điều trị dị ứng”, Trịnh Hoàng Kim Tú, TS Lê Đức Dũng, Tạp chí Khoa học & Công nghệ Việt Nam, số 12, năm 2018)

Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:

HOÀNG LIÊN CHÂN GÀ – DƯỢC LIỆU QUÝ ĐA TÁC DỤNG

    (1) Hoàng liên chân gà ( Coptis  chinensis  Franch) là cây  thân thảo, sống lâu năm,  ưa sống  ở vùng núi cao  1.000-2.500 m, mưa nhiều,  ẩm ướt.  Hiện  nay,  loài  dược  liệu  này  được  trồng nhiều tại Trung Quốc, chủ yếu  ở các tỉnh Tứ Xuyên, Vân Nam, Hồ  Bắc,  Thiểm  Tây,  Hồ  Nam,  Giang  Tây, Triết Giang, Sơn Tây. Tại Việt  Nam,  Hoàng  liên  chân  gà  phân  bố  chủ yếu ở huyện Sa Pa (Lào Cai) và  huyện Quản Bạ (Hà Giang). Hoàng  liên chân gà thuộc diện quý hiếm, đã  được đưa vào Sách đỏ của Liên minh  bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN)  năm 1980, Sách đỏ  Ấn Độ 1980 và  Sách đỏ Việt Nam năm 1996.  

    (2) Trong y học cổ truyền, Hoàng liên  chân  gà  có  vị  đắng,  tính  hàn.  Quy  kinh vào tâm, can, đởm, tiểu trường.  Có  tác  dụng  thanh  nhiệt  táo  thấp,  chủ trị các bệnh vị tràng thấp nhiệt  dẫn đến chứng lỵ, tiêu chảy; thanh  tâm  trừ  phiền:  tâm  hỏa  thịnh  gây  phiền muộn, mất ngủ, miệng lưỡi lở  loét; giải nhiệt độc ung nhọt, sốt cao,  phiền táo, chóng mặt, nói nhảm, mê  cuồng, lưỡi đỏ, mạch sác; thanh can  sáng mắt, điều trị các bệnh do can  hỏa gây đau mắt, đỏ mắt, chảy nước  mắt; giải độc ba đậu, khinh phấn.

    (3) Ngày nay, dược liệu này đã được  nhiều  nhà  khoa  học  trên  thế  giới  nghiên cứu về thành phần hóa học  và tác dụng dược lý.

     Thành  phần  hóa  học:  thân,  rễ  Hoàng  liên  chân  gà  có  chứa  nhiều  alcaloid  (5-8%),  với  các  thành  phần  chính  là  berberin,  palmatin,  jatrorrhizin,  coptisin,  epiberberin,  columbamin,  worenin,  magnoflorin...  Các thành phần alcaloid của Hoàng  liên  chân  gà  được  tìm  thấy  trong  hầu  hết  các  bộ  phận  của  cây,  tuy  nhiên  tỷ  lệ  alcaloid  trong  các  bộ  phận của cây thay đổi theo các giai  đoạn sinh trưởng và mùa. Vào tháng  9-10, ở thân và rễ nhỏ có hàm lượng  berberin cao; ở lá già trước khi rụng  (tháng 7-10) hàm lượng alcaloid cũng  thường cao; ở hoa có khoảng 0,56%  và hạt chứa 0,23% berberin. Ngoài  ra,  trong  thân,  rễ  của  Hoàng  liên  chân gà còn có tinh bột, acid hữu cơ  như acid ferulic... Trong số các thành  phần  hóa  học  nêu  trên,  berberin  được y học quan tâm nhiều nhất, tiếp  đến là palmatin.

     Tác  dụng  dược  lý:  các  kết  quả  nghiên  cứu  cho  thấy,  Hoàng  liên  chân gà có nhiều tác dụng dược lý  khác nhau:

     - Kháng khuẩn, kháng virus, kháng  nấm: nhóm nghiên cứu của Hàn Quốc  do Bae EA (1998) đứng đầu đã đánh  giá tác dụng của Hoàng liên chân gà  trên vi khuẩn  Helicobacter pylori , kết  quả  cho  thấy,  nước  sắc  từ  loài  cây  này có tác dụng làm giảm 16% hoạt  tính men urease và ức chế mạnh sự  phát triển của vi khuẩn  Helicobacter  pylori .  Các  nghiên  cứu  khác  cũng  đã chứng minh nước sắc Hoàng liên  chân  gà  và  hoạt  chất  berberin  có  phổ  kháng  khuẩn  rộng  đối  với  một  số chủng gram (+) và gram (-). Nước  sắc  thể  hiện  tác  dụng  ức  chế  một  số  vi  khuẩn  tùy  theo  độ  pha  loãng  khác nhau như:  Shigella shigac ,  Sh.  dysenteriae ,  Bacillus  tuberculosis ,  Bacillus  cholera ,  Staphylococcus  aureus ,  Bacillus  paratyphi ,  Bacillus  coli ,  Bacillus proteus ,  Streptococcus  hemolyticus ,  Vitrio cholera ,  Baccillus  subtilis ...  Cơ  chế  tác  dụng  kháng  khuẩn được giải thích là do berberin  ức chế tổng hợp ARN, ADN và protein  đối  với  vi  khuẩn.  Ngoài  ra,  Hoàng  liên chân gà còn có tác dụng kháng  nấm  và  virus.  Kết  quả  nghiên  cứu  cho thấy, nước sắc Hoàng liên chân  gà với nồng độ 50% khi thí nghiệm  trên phôi gà có tác dụng ức chế sự  phát triển của virus cúm chủng PR8,  56S8, P.M.

    - Giảm hội chứng ruột kích thích  và điều trị viêm đường tiêu hóa: năm  2011,  Yungwui  Tjong  và  cộng  sự  (Hồng Kông, Trung Quốc) đã nghiên  cứu chiết xuất rễ Hoàng liên chân gà  và nhận thấy chúng có tác dụng giảm  những  cơn  đau  nội  tạng  trên  động  vật thực nghiệm, cơ chế có thể là do  làm  giảm  hormon  cholecystokinin  và serotonin - là những chất làm co  cơ  trơn  dẫn  tới  tăng  nhu  động  đại  tràng.  Cũng  trong  năm  này,  nhóm  nghiên  cứu  của  Qian  Zhang  và  cộng sự (Trung Quốc) đã cho thấy  tác  dụng  điều  trị  viêm  đường  tiêu  hóa của dược liệu Hoàng liên chân  gà. Theo đó, dịch chiết nước Hoàng  liên chân gà với liều 300 mg/kg cân  nặng và berberin với liều 120 mg/kg  cân nặng đã có tác dụng làm giảm  tổn thương đường tiêu hóa gây ra bởi  lip oposaccharose  theo  cơ  chế  làm  tăng hoạt động của SOD và GSH-Px, ức chế hoạt động của TLR4 và NF-jB  ở hồi tràng.

    (4)  Đặc biệt, một số nghiên cứu được  công bố năm 2018 cho thấy, Hoàng  liên chân gà có tiềm năng để điều trị  bệnh  Alzheimer,  bảo  vệ  thần  kinh,  thận. Cụ thể, nhóm nghiên cứu của  Cao Thảo Nguyên và cộng sự (Việt  Nam)  đã  điều  tra  thành  phần  hóa  học  một  chiết  xuất  nước  của  dược  liệu  Hoàng  liên  chân  gà  và  xác  định  được  2  protoberberines  bậc  bốn (1, 2) và 1 amide ba vòng mới  (3), cùng với 5 hợp chất đã biết (4,  5, 6, 7, 8). Các hợp chất 4, 5 và 7  cho  thấy  sự  ức  chế  mạnh  đối  với  acetylcholinesterase  (AChE)  tương  ứng với các giá trị IC 50  là 1,1; 5,6 và  12,9 μ M. Hợp chất 2 và 4 cho thấy sự  ức chế butyrylcholinesterase (BChE)  tương ứng với giá trị IC 50  là 11,5 và  27,8 μ M. Qua nghiên cứu này, các tác  giả kết luận Hoàng liên chân gà là  dược liệu tiềm năng để điều trị bệnh  Alzheimer.  Tại  Trung  Quốc,  Yujuan  Li và cộng sự đã nghiên cứu tác dụng  bảo vệ thần kinh của polysaccharide  Hoàng liên chân gà trên mô hình giun  tròn  ( Caenorhabditis  elegans )  biến  đổi gen bị bệnh Alzheimer được gây  độc bằng amyloid-beta (A β ). Những  dữ liệu nghiên cứu chứng minh rằng  polysaccharide Hoàng liên chân gà  có thể làm giảm độc tính do A β  gây  ra bằng cách trì hoãn sự lão hóa, làm  giảm tốc độ tê liệt, ức chế sự lắng  đọng của A β , và tăng mức biểu hiện  của gen HSP trong giun tròn biến đổi  gen. Bên cạnh đó, Ying-Ying Wang và  cộng sự (Trung Quốc) đã chứng minh  rằng berberine (thành phần hoạt chất  chính của Hoàng liên chân gà) có thể  bảo  vệ  chức  năng  của  podocytes  thông qua ức chế chuyển TGF- β 1 từ  các tế bào Mesangial cầu thận sang  podocyte. Đây là một trong những cơ  chế tiềm năng của tác dụng bảo vệ  đối với bệnh thận do tiểu đường.  

    (5) Không chỉ dừng lại ở đó, Hoàng  liên chân gà còn được các công trình  nghiên cứu khoa học gần đây chứng  minh là dược liệu tiềm năng để điều trị  các bệnh về sa sút trí tuệ, tiểu đường,  phòng ngừa xơ vữa động mạch, lợi  mật, chống ung thư, hạ huyết áp, an  thần... Những tác dụng này đã được  Đỗ Huy Bích và cộng sự ghi chép lại  trong bộ sách  Cây thuốc và động vật  làm thuốc ở Việt Nam  do Nhà xuất  bản Khoa học và Kỹ thuật phát hành.

    (6) Việt Nam là một quốc gia sở hữu  nguồn tài nguyên cây thuốc và tri thức  sử  dụng  cây  thuốc  vô  cùng  phong  phú, đa dạng. Nhu cầu sử dụng dược  liệu phục vụ cho việc chăm sóc sức  khỏe cộng đồng tương đối cao. Trước  tình trạng cạn kiệt nguồn Hoàng liên  chân gà ở nước ta cùng với việc xác  định  được  những  vai  trò  phòng  và  chữa bệnh hết sức quan trọng của vị  thuốc này trong y dược học cổ truyền  và y dược học hiện đại, cần phải có  những hướng nghiên cứu mới về cây  Hoàng liên chân gà nhằm phát triển  nguồn dược liệu và tiềm năng chữa  bệnh từ dược liệu quý này.

    (7) Để bảo tồn các cây thuốc quý nói  chung, Hoàng liên chân gà nói riêng,  cách tốt nhất là hình thành nên chuỗi  giá trị cho chúng để bảo tồn và phát  triển bền vững trong thực tiễn cuộc  sống. Một số hoạt động nghiên cứu  cơ bản trong chuỗi giá trị như sau:  nghiên cứu quy trình kỹ thuật nhân  giống,  sản  xuất  giống  Hoàng  liên  chân  gà;  nghiên  cứu  quy  trình  kỹ  thuật  trồng  và  xây  dựng  mô  hình  trồng  Hoàng  liên  chân  gà;  sơ  chế,  chế biến tại vùng nguyên liệu để tạo  dược liệu Hoàng liên chân gà; nghiên  cứu  đánh  giá  các  thành  phần  hóa  học, tác dụng dược lý của dược liệu  trồng được so với dược liệu thu hái tự  nhiên và dược liệu nhập khẩu; nghiên  cứu bào chế sản phẩm bảo vệ sức  khỏe có sử dụng Hoàng liên chân gà  và các dược liệu khác đảm bảo được  tính an toàn, hiệu quả, đủ điều kiện  đưa ra thị trường.

    (8) Nói  cách  khác,  nghiên  cứu  xây  dựng  cơ  chế  bảo  tồn  giống,  cơ  sở  sản xuất giống, hình thành các vùng  chuyên  canh  trồng  nguyên  liệu,  cơ  sở chế biến tại vùng nguyên liệu, tạo  ra những sản phẩm được bào chế từ  Hoàng liên chân gà là việc làm thiết  thực và cần thiết để bảo tồn nguồn  gen, tạo dược liệu quý cho y học cổ  truyền Việt Nam, góp phần chăm sóc  sức khỏe cộng đồng.

(Nguồn: “Hoàng liên chân gà – dược liệu quý đa tác dụng”, Phùng Tuấn Giang, Tạp chí Khoa học & Công nghệ Việt Nam, số 12, năm 2018)

Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:

Đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu ứng dụng KH&CN phục vụ phát triển KT-XH đất nước

    (1) Trong  giai  đoạn  2015- 2019,  Viện  Ứng  dụng  Công  nghệ  đứng  trước  những  thử  thách  to  lớn,  đó  là  một  mặt  phải  đứng  vững,  phát  triển  trong  cơ  chế  tự  chủ  theo  tinh  thần  Nghị  định  115  (sau  này  là  Nghị  định  54)  của  Chính  phủ;  mặt  khác  phải  hoàn  thành  nhiệm  vụ  bám  sát  thực  tế,  triển  khai  hoạt  động  ứng  dụng  công  nghệ  phục  vụ  phát  triển  kinh  tế  của đất nước. Trong Điều lệ hoạt  động của Viện đã được Bộ trưởng  Bộ  KH&CN  ban  hành  kèm  theo  Quyết định số

2712/QĐ-BKHCN  ngày 19/9/2018 ghi rõ nhiệm vụ  của  Viện  là:  “Nghiên  cứu  khoa  học, ứng dụng và chuyển giao các  công nghệ cao, công nghệ mới về  các lĩnh vực thuộc phạm vi chức  năng,  nhiệm  vụ  được  giao  vào  sản xuất và đời sống, trong đó tập  trung vào công nghiệp công nghệ  cao, nông nghiệp công nghệ cao,  đô thị thông minh và an ninh quốc  phòng”. Tại Kế hoạch hành động  của Bộ KH&CN thực hiện Chỉ thị  16/CT-TTg của Thủ tướng Chính  phủ  về  tăng  cường  năng  lực  tiếp  cận  cuộc  Cách  mạng  công  nghiệp lần thứ 4, ban hành theo  Quyết định số 1749/QĐ-BKHCN  ngày  30/6/2017  của  Bộ  trưởng  Bộ KH&CN, Viện Ứng dụng Công  nghệ  được  giao  chủ  trì  và  tham  gia  thực  hiện  các  nhiệm  vụ  về  phát triển nông nghiệp công nghệ  cao  và  đô  thị  thông  minh.  Bám  sát các định hướng trên, Viện Ứng  dụng Công nghệ đã đồng thời đẩy  mạnh hoạt động trên cả hai hướng  nghiên cứu phát triển và chuyển  giao công nghệ, dịch vụ KH&CN.  

    (2) Riêng từ 2015-2019, Viện Ứng  dụng  Công  nghệ  đã  chủ  động  phối hợp với các bộ, ngành, địa  phương, doanh nghiệp xây dựng,  tổ chức thực hiện hàng loạt nhiệm  vụ KH&CN các cấp: 20 nhiệm vụ  cấp quốc gia, hơn 50 nhiệm vụ  cấp bộ, 03 nhiệm vụ cấp tỉnh và  hàng  chục  nhiệm  vụ  cấp  viện.  Nhiều  kết  quả  từ  các  nhiệm  vụ  trên đã tạo ra sản phẩm KH&CN  có ý nghĩa thiết thực, nổi trội.   

    (3) Ngoài  các  thiết  bị  laser công  nghiệp và điện tử y tế đã được xã  hội  thừa  nhận  rộng  rãi  và  đánh  giá cao hàng chục năm qua, sản  phẩm nổi bật gần đây được phát  triển là thiết bị vi điểm phẫu thuật  Fractional Laser - sản phẩm tiêu  biểu về thiết bị laser phục vụ y tế,  được  Tổng  Liên  đoàn  Lao  động  Việt Nam chứng nhận đạt Top 10  sản phẩm tại Triển lãm “ Tự hào  trí tuệ lao động Việt Nam ” lần thứ  hành  Tổng  Liên  đoàn  Lao  động  Việt  Nam  tặng  “ Bằng  lao  động  sáng  tạo” ;  thiết  bị  quang  đông  cầm  máu  Argon  Plasma  (APC) -  là  công  trình  tiêu  biểu  nổi  bật  trong  Chương  trình  Ấn  tượng  KH&CN Việt Nam năm 2018. Hợp  đồng hàn tấm lọc nhiễu điện thoại  di động cho Tập đoàn Samsung  của Trung tâm Công nghệ Laser  với độ chính xác cao đã được đối  tác Hàn Quốc ký kết hợp đồng gia  công sản xuất sản phẩm linh phụ  kiện cho điện thoại di động; các  hợp đồng lắp đặt thiết bị y tế (máy  laser He-Ne nội mạch và đa kênh  trị  liệu,  thiết  bị  phẫu  thuật  laser  CO 2 , thiết bị vi điểm phẫu thuật,  thiết bị tán sỏi ngoài cơ thể...) đã  được thực hiện, thiết thực phục vụ  chăm sóc sức khỏe cộng đồng.

    (4) Ứng  dụng  công  nghệ  fiber  laser tiên tiến, một nhóm chuyên  gia  của  Viện  đang  hợp  tác  chặt  chẽ với Công ty Cổ phần thiết bị  TAT chế tạo máy cắt 3D kim loại  fiber  laser  có  nguồn  1  kW  đáp  ứng  nhu  cầu  lớn  của  thị  trường  chế tạo ô tô, xe máy, sản xuất pin  xe điện...  

    (5)  Trong  công  nghệ  mạ  màng  mỏng, Viện đã nghiên cứu và thử  nghiệm thành công công nghệ mạ  màng  phản  xạ  và  màng  bảo  vệ  gương kích thước lớn (đường kính  600  mm)  sử  dụng  cho  hệ  Lidar  tầm  xa  được  phát  triển  tại  Viện  Vật lý (Viện Hàn lâm KH&CN Việt  Nam),  góp  phần  đưa  Việt  Nam  lên vị trí dẫn đầu khu vực Đông  Nam Á trong lĩnh vực thiết kế chế  tạo hệ Lidar quan trắc môi trường;  sản phẩm về mạ gương từ được  Bộ Quốc phòng đặt hàng đang ở  giai đoạn hoàn thiện cuối cùng.

    (6) Bên  cạnh  đó,  dự  án  “Cải  tiến  máy  chỉ  huy  K59-03  phục  vụ  đánh  đêm”  do  Quân  chủng  Phòng không Không quân là chủ  đầu tư, Trung tâm Tích hợp Công  nghệ tham gia thực hiện đã được  nghiệm thu thành công. Kết quả  kiểm tra bắn đạn thật tại Trường  bắn TB1 tháng 11/2018 cho thấy  máy  chỉ  huy  cải  tiến  điều  khiển  đại đội pháo phòng không 57 mm  bắn trúng mục tiêu ở cả điều kiện  ban  ngày  và  ban  đêm,  đạt  mọi  yêu cầu  kỹ -   chiến thuật được phê  duyệt; hợp đồng chế tạo thiết bị  quang điện tử cải tiến khí tài tên  lửa  do  Trung  tâm  Công  nghệ  Laser thực hiện, đã thay thế công  nghệ thu ảnh bằng linh kiện quang  điện tử thế hệ mới, nâng cao khả  năng quan sát, phát hiện mục tiêu  của hệ thống quang truyền hình  trên khí tài tên lửa Volga lên đến  khoảng cách 80 km (trước kia chỉ  đến 40 km) trong cả điều kiện ánh  sáng yếu (0,01 Lux). Sản phẩm  đã được triển khai lắp đặt và trang  bị tại các đơn vị bộ đội tên lửa.

    (7) Lĩnh  vực  vi  điện  tử,  công  nghệ thông tin, tự động hóa

     Các  nhiệm  vụ  KH&CN  được  triển khai khá nhiều và đa dạng.  Một  số  các  nhiệm  vụ  tập  trung  nghiên  cứu  chế  tạo  các  thiết  bị  cảm  biến  dựa  trên  công  nghệ  MEMS/NEMS  ứng  dụng  trong  môi  trường  và  y  tế.  Một  số  các  nhiệm vụ khác thực hiện theo đặt  hàng của các bộ/ngành như: Bộ  Giao thông Vận tải (hệ thống thiết  bị cảnh báo xe khách, hệ thống  phòng vệ đoàn tàu tự động kiểu  điểm,  hệ  thống  điều  khiển  chạy  tàu  ga  điện  khí  tập  trung  ứng  dụng  công  nghệ  vi  điều  khiển,  phần mềm 3D mô phỏng hỗ trợ  huấn luyện lái đầu máy diesel...);  Bộ Công thương (bộ Duplexer, bộ  khuyếch đại công suất và bộ tản  nhiệt hiệu suất cao cho hệ thống  RRU  -  Remote  radio  unit);  Bộ  Công an (phần mềm nhận dạng  mặt  người  từ  video);  Bộ  Quốc  phòng  (trạm  thu  thập  dữ  liệu  trực tuyến đa kênh phục vụ điều  khiển bắt bám mục tiêu di động);  các địa phương như Phú Thọ (hệ  thống thiết bị công nghệ cao phục  vụ  khai  thác  phát  triển  du  lịch  đền Hùng), Hà Nam (điều khiển  tín  hiệu  nút  giao  thông  thông  minh,  chiếu  sáng  thông  minh);  các doanh nghiệp như Tập đoàn  Công nghiệp Than - Khoáng sản  Việt Nam (hoán cải toa xe than,  giám  sát  băng  tải),  Tập  đoàn  Panasonic (hệ thống tự động phát  hiện lỗi mạch điện thoại bằng xử  lý ảnh)...    

    (8) Lĩnh  vực  sinh  học,  công  nghệ chế biến và môi trường

    Đây là lĩnh vực được nhiều địa  phương  quan  tâm,  mong  muốn  ứng dụng công nghệ cao để tạo  ra sản phẩm nông nghiệp có giá  trị gia tăng. Tiêu biểu là nhiệm vụ:  “Nghiên  cứu  chiết  tách  dầu  dừa  tinh khiết bằng công nghệ không  gia nhiệt” thuộc Chương trình Đổi  mới công nghệ quốc gia đến năm  2020 theo đặt hàng của Công ty  TNHH dừa Lương Quới (Bến Tre).  Trong  đó,  Viện  đã  nghiên  cứu,  chế tạo thành công dây chuyền  tách chiết dầu dừa ứng dụng công  nghệ không gia nhiệt. Hệ thống đã  đi vào hoạt động từ tháng 8/2017  tại  Công  ty  TNHH  dừa  Lương  Quới, với năng suất đạt 5.000.000  l/năm. Chất lượng sản phẩm dầu  dừa tinh khiết không gia nhiệt đạt  tiêu chuẩn quốc tế (theo APCC),  đáp  ứng  được  yêu  cầu  của  thị  trường Mỹ và châu Âu. Hiện tại,  Công ty TNHH dừa Lương Quới  đang cùng Viện tiếp tục thực hiện  dự án “Hoàn thiện công nghệ chế  biến và đóng gói Tetra - Pak cho  sản phẩm nước dừa tại vùng Đồng  bằng  sông  Cửu  Long”  để  xuất  khẩu. Hiện nay Viện đang hợp tác  với Tập đoàn NTT-AT (Nhật Bản)  thử nghiệm công nghệ chế biến  thạch dừa đông khô phục vụ chế  tạo  sợi  nano  sử  dụng  trong  pin  năng lượng thân thiện môi trường.  

    (9) Với các địa phương khác, Viện  đang  nghiên  cứu  phát  triển  các  sản phẩm từ các giống cây trồng,  vật nuôi chủ lực của địa phương  như chế biến hành tím, lòng trắng  trứng vịt muối cho tỉnh Sóc Trăng;  sả  hương  cho  Quảng  Nam;  dưa  lưới, trầu không cho Hà Nam; bò  Mông cho các tỉnh miền núi phía  Bắc hoặc tạo ra các công nghệ,  sản phẩm hỗ trợ như công nghệ  nuôi  tảo  Spirulina  nước  lợ  và  sản suất một số sản phẩm thực  phẩm  từ  sinh  khối  tảo  này  cho  Thanh  Hóa;  sản  phẩm  Nacen  Phos+Nacen  Cu+Nacen  Tricho  giúp  phòng  ngừa  triệt  để  bệnh  đốm  trắng  gây  hại  trên  Thanh  Long tại Bình Thuận...    

    (10) Hướng bảo tồn, phát triển cây  dược  liệu  cũng  được  Viện  quan  tâm, như đã hoàn thành nhiệm vụ  khai thác và phát triển nguồn gen  lan  Kim  Tuyến  (Anoectochilus  roxburghii  (Wall.)  Lindl.);  Chi  nhánh  phía  Nam  của  Viện  đã  hoàn  thiện  quy  trình  công  nghệ  sản xuất chế phẩm kích thích hạt  lúa  nảy  mầm  Nacen-GA  và  chế  phẩm kích thích ra hoa đậu quả  Nacen-Pa, đưa ra thị trường hàng  chục  tấn  sản  phẩm,  được  nông  dân các tỉnh phía Nam đánh giá  cao.

    (11) Viện cũng đã hợp tác với đối  tác Hàn Quốc nhận chuyển giao  công  nghệ  tiên  tiến  ứng  dụng  trong lĩnh vực xử lý môi trường và  nông nghiệp hữu cơ, đã triển khai  xây dựng hệ thống xử lý nước thải  y tế công suất 100 m 3 /ngày đêm,  đáp  ứng  nhu  cầu cho một  bệnh  viện tại Hải Dương.

    (12) Nhìn  lại  chặng  đường  5  năm  qua, hoạt động KH&CN của Viện  Ứng  dụng  Công  nghệ  có  những  đặc điểm và kết quả sau: 1) Các  nhiệm  vụ  KH&CN  đã  có  bước  chuyển biến mạnh mẽ trong đáp  ứng nhu cầu thực tế của phát triển  kinh tế - xã hội trong nước, bám  sát các chương trình công tác phối  hợp giữa Bộ KH&CN với các bộ,  ngành,  địa  phương.  Từ  đó  nhận  đặt  hàng  từ  các  bộ,  ngành,  địa  phương, doanh nghiệp; số lượng  các nhiệm vụ cấp quốc gia tăng  mạnh so với thời gian trước; quan  hệ  hợp  tác  với  các  địa  phương  tăng cường mở rộng ở khắp các  vùng miền trong nước, một số sản  phẩm KH&CN bước đầu đã có hiệu  quả, được thị trường đánh giá cao;  2)  Nội  hàm  ứng  dụng  các  công  nghệ  nền  tảng  của  cuộc  Cách  mạng công nghiệp lần thứ tư như  IoT, trí tuệ nhân tạo, Blockchain...  đang gia tăng mạnh trong các nội  dung nhiệm vụ KH&CN; 3) Nhiều  nhiệm vụ KH&CN đòi hỏi sự phối  hợp  chặt  chẽ  các  hướng  nghiên  cứu  khác  nhau  như  công  nghệ  thông tin, tự động hóa, công nghệ  sinh học... đã được thực hiện. Đây  cũng là một lợi thế từ tính đa dạng  về lĩnh vực nghiên cứu của Viện.   

    (13) Có thể nói, trải qua 35 năm xây  dựng và phát triển, được sự quan  tâm  của  Đảng,  Nhà  nước,  Bộ  KH&CN,  các  bộ/ngành  cùng  sự  nỗ lực của toàn thể cán bộ, viên  chức và người lao động, Viện Ứng  dụng Công nghệ đã toàn thành tốt  mọi nhiệm vụ được giao, đạt được  nhiều thành tích quan trọng trong  nghiên cứu ứng dụng và chuyển  giao  công  nghệ,  đóng  góp  thiết  thực cho sự phát triển kinh tế - xã  hội của đất nước. Trong bối cảnh  phát triển và hội nhập, nhất là việc  chuyển  đổi  mô  hình  hoạt  động  theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách  nhiệm, với truyền thống đoàn kết,  vượt khó, đi đầu trong nhiều lĩnh  vực KH&CN, tập thể cán bộ, viên  chức và người lao động Viện Ứng  dụng Công nghệ quyết tâm phấn  đấu xây dựng Viện trở thành một  trong những Viện nghiên cứu ứng  dụng tầm cỡ quốc gia.  

(Nguồn: “Đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu ứng dụng KH&CN phục vụ phát triển KT-XH đất nước”, Lê Hùng Lân, Tạp chí Khoa học & Công nghệ Việt Nam, số 9, năm 2019)

Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:

Đẩy mạnh nội địa hóa các thiết bị của nhà máy nhiệt điện

      (1) Theo  Quy  hoạch  điện  VII  đã  được  Thủ  tướng  Chính  phủ  phê  duyệt tại Quyết định số 1208/QĐ- TTg  ngày  21/7/2011,  từ  2011- 2030 sẽ có trên 50 nhà máy nhiệt  điện than được đầu tư xây dựng  với  tổng  số  vốn  khoảng  100  tỷ  USD,  trong  đó  vốn  đầu  tư  cho  phần xây dựng và thiết bị khoảng  60-70 tỷ USD. Đây là một cơ hội  lớn để phát triển các

ngành cơ khí  phụ trợ nói chung, cơ khí chế tạo  nhiệt điện nói riêng. Để có thể tự  chủ trong thiết kế, chế tạo thiết bị  nhiệt điện, giảm giá thành đầu tư  và tránh lệ thuộc nhà thầu nước  ngoài,  Thủ  tướng  Chính  phủ  đã  ban  hành  Quyết  định  số  1791/ QĐ-TTg ngày 29/11/2012 về “Cơ  chế  thí  điểm  thực  hiện  thiết  kế,  chế  tạo  trong  nước  thiết  bị  các  nhà  máy  nhiệt  điện  trong  giai  đoạn  2012-2025”  (Quyết  định  1791).  Mục  tiêu  chung  của  cơ  chế là giúp các doanh nghiệp cơ  khí trong nước nâng cao năng lực,  tiến tới làm chủ thiết kế, chế tạo  thiết bị cho nhà máy nhiệt điện,  thúc  đẩy  phát  triển  ngành  công  nghiệp  cơ  khí  trong  nước.  Mục  tiêu cụ thể là đảm bảo làm chủ  80% giá trị thiết kế, 70% giá trị  chế tạo cho 11 hạng mục thiết bị  của nhà máy nhiệt điện vào năm  2025. Quyết định nêu rất rõ về cơ  chế thực hiện như: phân chia gói  thầu, cách thức nhận chuyển giao  công  nghệ,  hình  thức  lựa  chọn  nhà thầu, chỉ định thầu, đơn giá  gói thầu, trách nhiệm của chủ đầu  tư và các cơ chế hỗ trợ khác.  

      (2)  Triển  khai  thực  hiện  Quyết  định số 1791, trên cơ sở đề xuất  của các doanh nghiệp, Bộ Công  Thương,  Bộ  KH&CN  đã  phê  duyệt cho một số doanh nghiệp  cơ khí trong nước thực hiện Dự án  KHCN “Nghiên cứu làm chủ công  nghệ thiết kế, chế tạo và đưa vào  vận hành một số hệ thống thiết  bị phụ nhà máy nhiệt điện chạy  than  công  suất  đến  600  MW”  với 12 nhiệm vụ là các đề tài/dự  án thành phần nhằm hỗ trợ các  doanh  nghiệp  nghiên  cứu  hoặc  nhận chuyển giao công nghệ làm  chủ việc thiết kế, chế tạo các thiết  bị nêu trên. Cụ thể:  

      (3) Hệ  thống  bốc  dỡ  than:  hệ  thống bốc than cho các nhà máy  nhiệt  điện  có  giá  trung  bình  từ  60 đến 100 triệu USD tùy thuộc  vào cấu hình cụ thể của nhà máy.  Hệ  thống  bao  gồm  thiết  bị  bốc  dỡ  than  từ  tàu  lên  cảng,  băng  tải vận chuyển từ cảng vào nhà  kho,  trong  nhà  kho  có  các  máy  đánh đống, phá đống, trộn; trước  khi vào nhà kho than được sàng  tuyển phân loại, loại bỏ kim loại.  Than chứa trong nhà kho sẽ được  băng tải vận chuyển đưa vào két  chứa than để đưa vào đốt trong lò  hơi. Để vận hành các thiết bị của  hệ thống bốc dỡ than, hệ thống  điện động lực và điện điều khiển  cũng được trang bị. Vấn đề của  các  doanh  nghiệp  Việt  Nam  là  không làm chủ được thiết kế hệ  thống, không làm chủ được việc  chế tạo các thiết bị chính của thiết  bị bốc dỡ than cũng như hệ thống  điện điều khiển... Để nội địa hóa  thiết bị bốc dỡ than, Viện Nghiên  cứu Cơ khí (Narime) đã được giao  thực hiện đề tài “Nghiên cứu, thiết  kế,  chế  tạo,  tổ  hợp  và  đưa  vào  vận hành hệ thống bốc dỡ, vận  chuyển than cho nhà máy nhiệt  điện đốt than  có công suất tổ máy  đến  khoảng  600  MW”.  Viện  đã  nhận chuyển giao công nghệ của  Công ty FAM (Đức), đồng thời ký  hợp đồng thiết kế, chế tạo, cung  cấp hệ thống bốc dỡ than cho Dự  án Nhiệt điện Sông Hậu. Đến nay,  Narime  đã  làm  chủ  thiết  kế  hệ  thống, có khả năng tự thiết kế hệ  thống điện, hệ thống điều khiển,  băng tải vận chuyển, tháp chuyển  tiếp, giàn kết cấu thép (làm chủ  được 60% công việc thiết kế, 50%  tỷ lệ chế tạo thiết bị)...   

      (4) Hệ thống khử lưu huỳnh:  thông  thường  giá  thành  của  hệ  thống  này  khoảng  70-100  triệu  USD  và chúng ta phải nhập 100% của  nước ngoài. Để thiết kế, chế tạo  trong nước thiết bị này cần một số  điều kiện sau: phải chỉ định thầu  cho một doanh nghiệp trong nước  thực  hiện  gói  thầu  (theo  Quyết  định số 1791), nhận chuyển giao  công nghệ thiết kế thiết bị từ nhà  thầu phụ nước ngoài. Để hỗ trợ nhận chuyển giao và  làm chủ công nghệ, Bộ KH&CN  đã giao cho Narime thực hiện đề  tài “Nghiên cứu, thiết kế, chế tạo  và  đưa  vào  vận  hành  hệ  thống  khử ô xít lưu huỳnh trong khói lò  (FGD)  cho  nhà  máy  nhiệt  điện  đốt than có công suất tổ máy đến  khoảng  600  MW”.  Viện  đã  chủ  động  liên  kết  với  nhiều  đối  tác  nước ngoài như MHPS của Nhật  Bản,  KC  Cotrell  của  Hàn  Quốc,  Andritz của Áo để tiếp thu công  nghệ, tham gia đấu thầu các gói  thầu về cung cấp hệ thống FGD  cho các dự án đại tu, lắp mới hệ  thống FGD cho các nhà máy nhiệt  điện đang vận hành tại Việt Nam  như các dự án nhiệt điện Quảng  Ninh, Hải Phòng, Phả Lại, Uông  Bí... Việc làm chủ công nghệ đối  với hệ thống khử lưu huỳnh hiện  còn  phụ  thuộc  vào  địa  chỉ  áp  dụng.  Viện  hy  vọng  sẽ  sớm  tìm  được  địa  chỉ  ứng  dụng  để  thực  hiện thành công đề tài.

      (5) Thiết bị thải tro xỉ:  trong các dự  án nhiệt điện, thiết bị thải tro xỉ  phải nhập khẩu đồng bộ từ nước  ngoài (trừ một vài dự án do Nhật  Bản  hoặc  Hàn  Quốc  làm  tổng  thầu, các nhà thầu Việt Nam được  thuê lại làm phần kết cấu thép).  Để  khắc  phục  tình  trạng  trên,  Bộ KH&CN đã giao Narime thực  hiện đề tài: “Nghiên cứu, thiết kế,  chế tạo và đưa vào vận hành hệ  thống thải tro xỉ đồng bộ cho nhà  máy nhiệt điện đốt than phun có  công suất tổ máy đến khoảng 600  MW”. Về thiết kế, Narime đã có  thể  thực  hiện  việc  thiết  kế  trên  cơ  sở  thiết  kế  của  nước  ngoài,  riêng phần điện, tự động hóa đã  làm chủ toàn bộ thiết kế. Về chế  tạo, trừ các thiết bị tiêu chuẩn như  bơm, động cơ, hộp số, van... phần  còn lại có thể được chế tạo trong  nước với tỷ lệ nội địa hóa đến 50%  cả hệ thống.

      (6) Thiết bị ống khói:  Bộ KH&CN  đã  giao  Tổng  công  ty  Lắp  máy  Việt  Nam  (Lilama)  thực  hiện  nhiệm  vụ:  “Nghiên  cứu  thiết  kế,  chế tạo và đưa vào vận hành hệ  thống thải khói cho các nhà máy  nhiệt điện đốt than có công suất  tổ  máy  đến  600  MW”.  Đến  thời  điểm  hiện  tại,  Lilama  đang  thực  hiện thiết kế, chế tạo và cung cấp  hệ thống ống khói cho Nhà máy  nhiệt điện Sông Hậu.

      (7) Hệ thống nước làm mát tuần  hoàn:  đã được  Lilama  18  thực  hiện  thiết  kế  chi  tiết  dựa  trên  thiết kế cơ sở của nhà thầu nước  ngoài.  Về  chế  tạo,  ngoài  phần  bơm, động cơ, hộp số phải mua  của nước ngoài, phần còn lại do  Lilama 18 tự thực hiện.

      (8) Trạm phân phối và máy biến  áp:  Công ty chế tạo thiết bị điện  Đông Anh thiết kế, chế tạo máy  biến áp cho các tổ máy 600 MW  không chỉ phục vụ cho nhiệt điện  mà còn phục vụ cho truyền tải và  các nhà máy thủy đi ện. Hệ thống bốc dỡ và vận chuyển than tại nhà máy nhiệt điện.

      (9) Hệ  thống  phòng  cháy,  chữa  cháy:  Narime đã kết hợp với Công  ty Thăng Long, đơn vị thực hiện  hợp  đồng  cung  cấp  hệ  thống  phòng cháy, chữa cháy cho Dự án  nhiệt điện Sông Hậu 1. Đến nay,  Narime  và  Công  ty  Thăng  Long  có khả năng thiết kế và chế tạo  hệ thống phòng cháy, chữa cháy  với tỷ lệ nội địa hóa tới trên 70%.

      (10) Thiết  bị  lọc  bụi  tĩnh  điện:  đã  được Narime  thiết  kế,  chế  tạo  với  tỷ  lệ  nội  địa  hóa  gần  80%.  Với  sản  phẩm  này,  Narime  đã  làm chủ công nghệ sản xuất các  thành  phần  chính  và  khó,  quyết  định đến chất lượng của thiết bị  như: tấm cực lắng, thanh gai cực  phóng,  quả  búa  bộ  phận  gõ  rũ  bụi. Ngoài ra, Viện còn chế tạo và  tích hợp thành công hệ thống thiết  bị máy cán chuyên dụng sản xuất  điện cực lắng, thiết bị máy cán -  đột  chuyên  dụng  sản  xuất  điện  cực phóng, thiết bị đồ gá gia công  chuyên dụng sản xuất các chi tiết  bộ búa gõ rũ bụi.

      Thành công từ sự vào cuộc của các  bộ, ngành và doanh nghiệp

      (11) Có  được  những  kết  quả  nêu  trên  là  do  sự  chỉ  đạo  quyết  liệt  của  Chính  phủ  thông  qua  việc  ban  hành  hàng  loạt  các  chính  sách nhằm hỗ trợ doanh nghiệp  cơ  khí  chế  tạo  trong  nước  tham  gia nội địa hóa thiết bị nhà máy  nhiệt  điện  (điển  hình  là  Quyết  định  1791).    Bên  cạnh  đó,  việc  triển khai 12 nhiệm vụ thuộc dự  án KHCN “Nghiên cứu, thiết kế,  chế  tạo  và  đưa  vào  vận  hành  một số hệ thống thiết bị phụ nhà  máy nhiệt điện chạy than có công  suất  tổ  máy  khoảng  600  MW”  đã  thể  hiện  quyết  tâm  lớn  của  Bộ  KH&CN,  Bộ  Công  Thương,  Narime  cùng  các  nhà  khoa  học  và doanh nghiệp tham gia trong  quá trình nội địa hóa thiết bị nhà  máy nhiệt điện. Từ chỗ chưa có  nhiều kinh nghiệm trong thiết kế  hệ thống, đồng bộ một nhà máy  nhiệt điện đốt than công suất đến  600 MW, nhưng qua thực tế đầu  tư  xây  dựng  các  nhà  máy  nhiệt  điện trong một vài năm gần đây,  chúng  ta  đã  từng  bước  nắm  bắt  được công nghệ thiết kế, chế tạo  và  thu  được  nhiều  kinh  nghiệm  trong quản lý dự án xây dựng nhà  máy nhiệt điện đốt than. Đến thời  điểm hiện tại chúng ta đã làm chủ  được thiết kế và chế tạo thiết bị  lọc bụi tĩnh điện với tỷ lệ nội địa  hóa  khoảng  80%;  làm  chủ  thiết  kế, chế tạo hệ thống bốc dỡ, vận  chuyển than với tỷ lệ nội địa hóa  trên  50%;  làm  chủ  thiết  kế,  chế  tạo hệ thống thiết bị thải tro xỉ với  tỷ lệ nội địa hóa trên 50%...

      (12) Đặc biệt, chủ đầu tư của các  dự án nhiệt điện đã thay đổi nhận  thức, mạnh dạn giao cho các nhà  thầu  trong  nước  thực  hiện  thiết  kế, chế tạo một số thiết bị trong  các nhà máy nhiệt điện. Các tổng  thầu EPC (trong đó có chủ đầu tư  và nhà thầu nước ngoài) cũng đã  giao cho các doanh nghiệp cơ khí  Việt Nam thực hiện các gói thầu  chế  tạo  thiết  bị  theo  hình  thức  nhà  thầu  phụ;  nhiều  dự  án  đã  được giao cho các doanh nghiệp  trong nước là tổng thầu EPC như  tại các dự án Vũng Áng 1, Thái  Bình 1, Vĩnh Tân 4, Sông Hậu 1,  góp phần tăng tỷ lệ nội địa hóa,  mang lại hiệu quả chung của các  dự án. Bên cạnh đó, các doanh  nghiệp tham gia dự án đã kết hợp  tốt việc thực hiện hợp đồng kinh  tế với thực hiện nhiệm vụ KH&CN  để nghiên cứu, nhận chuyển giao  công  nghệ,  từ  đó  làm  chủ  công  nghệ. Kết hợp được đấu thầu mua  bán thiết bị, công nghệ kèm theo  điều kiện chuyển giao công nghệ,  biết cách nhận chuyển giao công  nghệ qua việc thực hiện hợp đồng  kinh  tế.  Các  doanh  nghiệp  đã  nghiêm túc đào tạo nguồn nhân  lực để thực hiện việc nội địa hóa.  

      (13) Mặc  dù  đã  đạt  được  những  kết quả rất đáng khích lệ, nhưng  cũng còn một số vấn đề bất cập  như: nhiều chủ đầu tư dự án nhiệt  điện đã không thực hiện nghiêm  túc Quyết định 1791. Một số chủ  đầu tư chỉ nhìn thấy những lợi ích  trước mắt mà “phớt lờ” những rủi  ro có thể gặp như bị tăng vốn đầu  tư, giải ngân chậm tiến độ, chất  lượng  thiết  bị  không  đảm  bảo...  Bên  cạnh  đó,  một  số  nhà  thầu  trong nước khi được chỉ định thầu  thực hiện các hạng mục của dự  án nhiệt điện không thực hiện tốt  công việc của mình (tiến độ, chất  lượng, công nghệ các thiết bị phụ  trợ do doanh nghiệp cơ khí trong  nước  sản  xuất  không  đáp  yêu  cầu...),  dẫn  đến  các  chủ  đầu  tư  không tin tưởng để bóc tách các  hạng mục giao cho các nhà thầu  trong nước.   

      (14) Việc  nội  địa  hóa  thiết  bị  nhà  máy nhiệt điện có thành công hay  không  tùy  thuộc  vào  việc  Chính  phủ  chỉ  đạo  các  bộ/ngành  thực  hiện  đúng  các  nội  dung  trong  Quyết định số 1791/QĐ-TTg, nếu  Quyết định này không được thực  hiện nghiệm túc, chương trình có  thể không đạt được mục tiêu và  việc  đầu  tư,  xây  dựng  các  nhà  máy nhiệt điện sẽ phụ thuộc hoàn  toàn  vào  nhà  thầu  nước  ngoài.  Nếu  chúng  ta  thực  hiện  Quyết  định 1791 một cách nghiêm túc,  sự thành công của chương trình  nội địa hóa thiết bị nhiệt điện sẽ  đem lại lợi ích kinh tế lớn tương  tự như các lợi ích chúng ta đã đạt  được  trong  chương  trình  nội  địa  hóa  thiết  bị  nhà  máy  thủy  điện  trước đây.

(Nguồn: “Đẩy mạnh nội địa hóa các thiết bị của nhà máy nhiệt điện”, Nguyễn Chỉ Sáng, Tạp chí Khoa học & Công nghệ Việt Nam, số 9, năm 2019)

Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:

Cứng hóa bùn – Giải pháp hiệu quả để xử lý nền đất yếu

     (1) Cứng hóa bùn là việc trộn vật  liệu kết dính hoạt tính vào trong  bùn  thải,  bùn  nạo  vét.  Cứng  hóa  bùn  bao  gồm  hai  vấn  đề,  đó  là  “cứng  hóa”  và  “ổn  định”.  “Ổn định” được hiểu là để xử lý  ô nhiễm, bằng việc cố định các  chất gây hại trong hỗn hợp bùn  cứng hóa cũng như biến đổi các  chất gây hại này sang các chất ít  gây hại hơn, có độ hòa tan thấp  hơn.  “Cứng  hóa” là  sự  cải  thiện  tính chất vật lý của bùn, các tính  chất vật lý này bao gồm cường độ  nén, giới hạn chảy, giới hạn dẻo,  độ sệt cũng như tăng khả năng  chống  thấm.  Mục  đích  của  việc  trộn hỗn hợp vật liệu kết dính vào  bùn nhằm làm cải thiện cường độ,  tính thấm và sức bền bằng cách  giảm hệ số rỗng và gắn các hạt  đất bùn với nhau. Khi trộn vật liệu  kết dính với bùn có 3 phản ứng  chính xảy ra, gồm  khử nước, trao  đổi ion, phản ứng keo  hóa. Cường  độ của bùn sau khi được trộn sẽ  tăng từ từ và chủ yếu là phụ thuộc  vào phản ứng keo hóa.

     (2) Các  vật  liệu  kết  dính  thường  được sử dụng bao gồm xi măng  Portland, bụi lò xi măng, vôi bột,  đá vôi, tro bay, tro xỉ, thạch cao,  hỗn hợp phốt pho và nhiều sản  phẩm  thương  mại  độc  quyền  khác.  Do  sự  khác  nhau  về  tính  chất cơ lý (hàm lượng nước, giới  hạn chảy, giới hạn dẻo) cũng như  thành phần hóa học của các loại  bùn, nên cấp phối trộn cho việc  cứng  hóa  cần  được  thiết  kế  để  phù  hợp  với  tính  chất  từng  loại  nhằm đảm bảo yêu cầu kỹ thuật  cũng như giá thành. Các vật liệu  kết dính được chia làm hai loại là  vô cơ và hữu cơ. Trong thực tế áp  dụng, các vật liệu kết dính vô cơ  thường được lựa chọn hơn do giá  thành rẻ hơn nhiều so với chất kết  dính  hữu  cơ  như  nhựa  át  phan,  ure  formandehyde  và  các  chất  polyme khác.

     (3) Cơ chế làm cứng và cải tạo bùn  là keo tụ thông qua các phản ứng  trao đổi cation và tạo ra chất kết  dính C-S-H thông qua các phản  ứng  puzzolan  trong  môi  trường  đất bùn:  

nCaO + SiO 2  + yH 2 O  →  C-S-H    (1)

     (4) Xi măng Portland là thành phần  chính trong bê tông được sử dụng  trong xây dựng, vì vậy xi măng là  một lựa chọn rất tốt cho quá trình  đông cứng và ổn định đối với các  loại bùn khác nhau. Cấp phối có  thành phần xi măng là phổ biến  hơn so với các chất kết dính khác.  Xi măng thường được sử dụng vì:  (1) trong quá trình hydrat hóa xi  măng làm giảm nước tự do trong  bùn, (2) giảm độ thấm do thay đổi  liên kết trong bùn, (3) bao phủ các  hạt bùn bằng lớp chống thấm, (4)  cố định hóa học các chất gây hại  trong bùn bằng giảm độ hòa tan  của chúng và (5) tạo thuận lợi cho  việc giảm độc tính của một số chất  ô nhiễm. Hỗn hợp vật liệu trộn xi  măng có thể xử lý được các chất  gây hại vô cơ cũng như hữu cơ.  Các hỗn hợp vật liệu thương mại  độc  quyền  thường  là  sản  phẩm  trộn của các chất kết dính vô cơ  hoặc hữu cơ với xi măng. Tro bay  hoặc tro xỉ thường được kết hợp  sử dụng với xi măng để kích hoạt  phản  ứng  pozzolan  của  chúng.  Bụi  lò  xi  măng  thường  được  sử  dụng vì lý do kinh tế. Vôi bột có  thể sử dụng để điều chỉnh pH hay  giảm  nước  nhờ  nhiệt  lượng  cao  tỏa  ra  trong  quá  trình  thủy  hóa.  Đá vôi dùng để điều chỉnh pH và  tăng trọng lượng hỗn hợp.

     Các công nghệ cứng hóa bùn

     (5) Các  công  nghệ  hiện  nay  thường  được  áp  dụng  để  cứng  hóa  bùn  nhằm  cải  thiện  sự  gắn  kết  của  các  hạt  đất  gồm:  công  nghệ thoát lượng nước trong bùn  và công nghệ trộn các vật liệu kết  dính vào bùn.

     Thoát  nước  trong  bùn  tự  nhiên để cải tạo bùn

     (6) Giải pháp thoát nước tự nhiên:  bùn được đào lên và vận chuyển  đến  vị  trí  cần  sử  dụng,  sau  đó  được  phơi  khô  và  thoát  nước  tự  nhiên.  Kết  quả  một  số  nghiên  cứu  với  giải  pháp  này  cho  thấy,  sau khoảng 11 tháng, hàm lượng  nước ban đầu của bùn là khoảng  115-130% giảm còn 65-75%.

     (7) Sử dụng các vật liệu thoát nước  kết hợp hút chân không:  phương  pháp  này  ứng  dụng  cơ  chế  hút  nước trong nền để làm tăng các  chỉ tiêu cơ lý của nền, bằng cách  cắm  các  bấc  thấm  thẳng  đứng  rồi nối với máy bơm chân không.  Kết cấu thoát nước đứng thường  đi cùng với việc gia tải nhằm thúc  đẩy quá trình thoát nước của các  loại đất yếu nhằm đẩy nhanh quá  trình cố kết. Kết cấu thoát nước  tạo ra một “con đường” để nước  thoát ra từ trong đất. Thời gian để  thoát  nước  cho  đất  có  thể  giảm  từ một vài năm xuống chỉ còn vài  tháng. Việc hút chân không giúp  cải thiện các tính chất cơ lý của  bùn hoặc đất yếu.  

    Trộn  vật  liệu  kết  dính  vào  bùn tự nhiên  

     (8) Trộn vật liệu kết dính bằng hệ  thống  bơm  khí  nén:  công  nghệ  này  đã  được  các  nhà  khoa  học  nghiên cứu năm 1998 bằng cách  trộn các vật liệu kết dính với bùn  trên đường ống bơm vận chuyển  bằng  hệ  thống  máy  nén  khí.  Phương pháp này không yêu cầu  lượng nước hỗ trợ bơm vào bùn  chảy trong đường ống, loại bỏ sự  cần thiết phải lắp đặt hệ thống xử  lý thoát nước trong khu vực san  lấp.  Tuy  nhiên,  công  nghệ  này  có chi phí cao và đòi hỏi một thời  gian dài để hỗn hợp bùn xi măng  đạt được các tính chất cơ học cần  thiết cho các công trình xây dựng  tiếp theo.

     (9) Trộn  vật  liệu  kết  dính  bằng  các  trạm  trộn:  vật  liệu  kết  dính  với các hàm lượng đã được tính  toán nghiên cứu trước được đưa  vào  bùn  tự  nhiên  qua  các  trạm  trộn cưỡng bức. Phương pháp này  đã được áp dụng tại nhiều công  trình trên thế giới bởi nhiều nhà  thầu thi công. Có thể dùng những  trạm trộn di động bằng cách lắp  các buồng trộn cỡ nhỏ trên các xe  tải hoặc với những công trình khối  lượng lớn có thể sử dụng các trạm  trộn cố định để trộn vật liệu kết  dính vào bùn tự nhiên.

     (10) Giải pháp trộn tại chỗ bùn cần  gia cố:  đây là giải pháp đáp ứng  được nhiều yêu cầu của thực tế  khi  cần  tăng  khả  năng  chịu  tải  của  những  vùng  đất  yếu,  vùng  cần san lấp. Việc xác định tỷ lệ  các thành phần chất kết dính đưa  Mô hình thi công gia cố đất bùn bằng thoát nước và hút chân không tại Nhật Bản. vào xử lý được xác định từ các thí  nghiệm  trong  phòng  thí  nghiệm  qua các thiết bị trộn nông nhằm  cải thiện được tính chất cơ lý của  khu vực cần gia cố, san lấp. Với  các loại hình thiết bị khác nhau,  vật liệu kết dính sẽ được trộn đều  trong  khối  đất  cần  gia  cố  bằng  công nghệ khô/ướt, quay/phun áp  lực, khoan/cắt...

Ứng dụng tiềm năng tại Việt Nam

     (11) Với bờ biển dài hơn 3.200 km  cùng 49 cảng biển lớn nhỏ, kèm  theo  hệ  thống  sông,  cửa  biển  phục vụ cho tàu bè vận chuyển  hàng hóa, đặc biệt tại Đồng bằng  sông Cửu Long giao thông trên hệ  thống sông ngòi đóng vai trò quan  trọng trong phát triển kinh tế. Do  đó yêu cầu khai thông luồng lạch  cửa sông, cửa biển và cảng biển  hàng năm là rất lớn. Lượng bùn  nạo vét cần được xử lý để tránh  ô  nhiễm  môi  trường  là  một  thử  thách được đặt ra trong quá trình  khai thác các cửa sông, cửa biển  và hải cảng. Ngoài ra, trên cơ sở  kết quả của Hội nghị về phát triển  bền  vững  Đồng  bằng  sông  Cửu  Long  thích  ứng  với  biến  đổi  khí  hậu  ngày  26-27/9/2017,  Chính  phủ đã ban hành Nghị quyết số  120/NQ-CP ngày 17/11/2017 về  “Phát triển bền vững Đồng bằng  sông Cửu Long thích ứng với biến  đổi khí hậu”, trong đó có nội dung  “nghiên  cứu  tạo  nguồn  vật  liệu  mới  thay  thế,  phục  vụ  san  lấp,  xây dựng (hạn chế việc lấy cát từ  lòng sông để tôn nền). Quy hoạch  và đầu tư các khu xử lý chất thải,  nước thải tập trung, hiện đại; đẩy  mạnh tái chế, tái sử dụng và sản  xuất năng lượng từ rác”. Do vậy,  tiềm  năng  áp  dụng  giải  pháp  cứng hóa bùn tại Việt Nam là rất  lớn, bởi đồng thời giải quyết được  nhiều  vấn  đề  đặt  ra:  bảo  trì  hệ  thống giao thông đường thủy, tạo  ra vật liệu mới để san nền, góp  phần  thích  ứng  với  biến  đổi  khí  hậu và xử lý môi trường.

     (12) Theo  hướng  này,  Viện  Thủy  công đã có một nghiên cứu thực  nghiệm về việc hóa rắn bùn nạo  vét ở tỉnh Cà Mau với mục đích:  tạo vật liệu đất hỗn hợp đáp ứng  các  yêu  cầu  (góc  ma  sát  trong  φ >10 0 ; độ kết dính C>0,1 kg/cm 2 ,  có  thể  thay  thế  được  cho  móng  cát  xây  dưới  nền  đê  theo  thiết  kế hiện hành; tạo vật liệu có thể  được bơm đi từ 500 đến 1.000 m;  giá  thành  sản  phẩm  chấp  nhận  được đối với bùn đã qua xử lý.   

     (13) Nhóm nghiên cứu đã thực hiện  thí nghiệm tại Hà Nội với mẫu bùn  lấy từ tỉnh Cà Mau, tro bay ở Trà  Vinh, vôi lấy tại Thái Bình và các  phụ gia hóa học. Sau thử nghiệm  trong  phòng  thí  nghiệm,  nhóm  nghiên cứu đã áp dụng tại công  trường xây dựng trong Khu công  nghiệp Khánh An, tỉnh Cà Mau.  Kết  quả  ứng  dụng  ban  đầu  tại  hiện trường cho thấy, có thể tạo  ra một loại vật liệu sử dụng bùn  nạo vét thay thế phục vụ cho việc  san lấp, xây dựng (hạn chế việc  lấy cát từ lòng sông để tôn nền);  giảm thiểu được xói lở bờ sông,  bờ biển hiện nay ở khu vực Đồng  bằng sông Cửu Long do khai thác  cát quá giới hạn; giải quyết được  chỗ đổ thải bùn nạo vét trên địa  bàn  các  tỉnh  Đồng  bằng  sông  Cửu Long hàng năm (hiện tại các  dự án nạo vét đang phải đền bù  đất cho người dân để lấy chỗ xả  bùn thải).

     (14) Những  kết  quả  ban  đầu  cho  thấy, phương pháp cứng hóa bùn  có thể giải quyết vấn đề nền đất  yếu,  bùn  nạo  vét  ở  Đồng  bằng  sông  Cửu  Long  hàng  năm;  các  sản phẩm hình thành này có thể  là  sẽ  là  một  nguồn  nguyên  liệu  tiềm năng trong khu vực để san  lấp và xây dựng các cơ sở hạ tầng  phục vụ phát triển kinh tế - xã hội  nói  chung,  xây  dựng  nông  thôn  mới nói riêng  

(Nguồn: “Cứng hóa bùn – Giải pháp hiệu quả để xử lý nền đất yếu”, TS Ngô Anh Quân, GS.TS Nguyễn Quốc Dũng, Tạp chí Khoa học & Công nghệ Việt Nam, số 9, năm 2019)

Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:

Ứng dụng công nghệ mới trong sấy gỗ rừng trồng

    (1) Với quỹ đất lâm nghiệp chiếm  hơn 55% diện tích tự nhiên, trong  đó  rừng  trồng  có  diện  tích  gần  120.000 ha, hàng năm cung cấp  sản lượng gỗ có thể khai thác trên  300.000 m 3  (keo, bạch đàn...), Phú  Thọ là tỉnh có tiềm năng nguyên  liệu  gỗ  rừng  trồng  rất  lớn.  Mấy  năm gần đây, các cơ sở chế biến  gỗ bóc, gỗ thanh quy mô hộ gia  đình đang phát triển nhanh tại các  huyện

có nhiều rừng trồng ở Phú  Thọ (toàn tỉnh có khoảng 550 cơ  sở chế biến gỗ nhỏ lẻ). Tuy nhiên,  công nghiệp chế biến, sử dụng gỗ  rừng trồng ở đây còn bị đánh giá  là thiếu quy hoạch  và phát triển  không bền vững, hiệu quả sử dụng  nguyên liệu gỗ thấp, chưa mang  lại thu nhập xứng đáng cho người  trồng rừng và góp phần phát triển  kinh tế địa phương. Nguyên nhân  chủ yếu là do gỗ được sử dụng  ở dạng thô: bán gỗ tròn cho các  nhà máy giấy, một số cơ sở thu  mua gỗ làm nguyên liệu băm dăm  gỗ xuất khẩu, một phần nhỏ khác  làm nguyên liệu gỗ bóc. Lượng gỗ  sử dụng làm gỗ xẻ đóng đồ mộc  hầu như không đáng kể. Theo kết  quả điều tra, hiện tại ở Phú Thọ  chưa có cơ sở chế biến gỗ xẻ và  sấy khô quy mô lớn, sử dụng công  nghệ và thiết bị tiên tiến để có thể  tạo ra sản phẩm gỗ đáp ứng yêu  cầu sản xuất đồ mộc chất lượng  cao. Các xưởng chế biến gỗ rừng  trồng hiện chủ yếu ở quy mô nhỏ  (công suất tiêu thụ nguyên liệu từ  10  đến  20  m 3 /ngày),  sản  phẩm  gỗ xẻ chủ yếu sử dụng làm cốp  pha  xây  dựng  hoặc  làm  nguyên  liệu đóng các sản phẩm mộc dân  dụng  chất  lượng  thấp,  phục  vụ  tiêu dùng tại địa phương. Đây là  nguyên nhân chính hạn chế khả  năng đưa cây keo (sản phẩm chủ  lực của rừng trồng) trở thành hàng  hóa và là sản phẩm đặc trưng của  bà con nhân dân miền núi.  

    (2) Tăng  cường  và  chủ  động  khai  thác  nguồn  nguyên  liệu  trong  nước,  đặc  biệt  là  sử  dụng  gỗ rừng trồng là định hướng của  ngành công nghiệp chế biến gỗ  Việt Nam. Trước nhu cầu tiêu thụ  nguyên liệu gỗ nói chung, gỗ keo  nói riêng của ngành công nghiệp  chế biến gỗ ngày càng tăng, việc  đầu tư xây dựng một mô hình chế  biến, sấy gỗ rừng trồng nói chung  và gỗ keo nói riêng với công nghệ  tiên tiến trong thời điểm hiện nay  là  rất  cần  thiết  và  phù  hợp  với  điều kiện của tỉnh Phú Thọ, nhằm  góp phần tạo việc làm, tăng thu  nhập cho người trồng rừng (nhờ  việc thu mua gỗ tròn làm gỗ xẻ  giá  cao  hơn).  Xuất  phát  từ  thực  tiễn đó, Công ty Cổ phần Thương  mại và Xây dựng Ngọc Ninh đã  đề xuất và được phê duyệt thực  hiện dự án “Ứng dụng công nghệ  mới  trong  sấy  gỗ  rừng  trồng  tại  tỉnh  Phú  Thọ”  (thuộc  Chương  trình nông thôn miền núi giai đoạn  2016-2025).  Dự  án  được  thực  hiện với sự hỗ trợ công nghệ của  Viện  Nghiên  cứu  Công  nghiệp  rừng (Viện Khoa học Lâm nghiệp  Việt Nam).

    (3) Nâng cao chất lượng, giá trị sản phẩm nhờ ứng dụng công nghệ mới

Dự  án  “Ứng  dụng  công  nghệ  mới  trong  sấy  gỗ  rừng  trồng  tại  tỉnh Phú Thọ” được thực hiện với  mục  tiêu  xây  dựng  và  đưa  vào  vận hành hệ thống lò sấy gỗ với  công nghệ và thiết bị tiên tiến, có  chế độ sấy được điều khiển, giám  sát tự động, công suất 90 m 3 /mẻ  nhằm  nâng  cao  chất  lượ ng  gỗ  phục vụ chế biến ván ghép thanh,  góp phần sử dụng hiệu quả nguồn  nguyên liệu gỗ rừng trồng  ở địa  phương,  phát  triển  chuỗi  cung  ứng và tiêu thụ sản phẩm gỗ keo  chất lượng cao.  

    (4) Sau  hơn  2  năm  thực  hiện  (tháng  11/2016-4/2019),  dự  án  đã hoàn thành tốt các mục tiêu và  nội dung đề ra. Cụ thể: dự án đã  xây dựng được 1 hệ thống lò sấy  gỗ với công nghệ và thiết bị tiên  tiến, chế độ sấy được điều khiển,  giám sát tự động, công suất sấy  120 m 3 /mẻ (vượt hơn 30% so với  kế hoạch) tại xã Yên Kiện, huyện  Đoan  Hùng,  tỉnh  Phú  Thọ;  xây  dựng  được  quy  trình  công  nghệ  sấy  gỗ  rừng  trồng  (gỗ  keo)  phù  hợp  với  hệ  thống  lò  sấy  đã  xây  dựng; tiếp nhận thành công công  nghệ sấy gỗ điều khiển, giám sát  tự động để sấy gỗ xẻ từ nguồn gỗ  keo lai và keo tai tượng...

    (5) Bên cạnh đó, dự án còn đào tạo  được 5 kỹ thuật viên làm chủ công  nghệ sấy gỗ rừng trồng, từ bước  lựa chọn, phân loại gỗ trước sấy;  sắp xếp đưa gỗ vào - ra lò sấy;  kỹ thuật sấy gỗ xẻ từ nguồn gỗ  keo lai và keo tai tượng; kỹ thuật  vận hành lò hơi; kỹ thuật đánh giá  chất lượng gỗ xẻ trước và sau khi  sấy, đồng thời tổ chức tập huấn  cho 70 lao động phổ thông về kỹ  thuật vận hành hệ thống sấy gỗ...  Đặc  biệt,  trên  cơ  sở  công  nghệ  được chuyển giao từ Viện Nghiên  cứu Công nghiệp rừng, dự án đã  sản xuất được 500 m 3  sản phẩm  gỗ sấy đạt độ ẩm theo yêu cầu  (10-12%), tỷ lệ hư hỏng gỗ sấy do  khuyết tật thấp (dưới 15%). Sản  phẩm gỗ sấy của dự án đã được  Công ty TNHH Trung Thành (Phú  Thọ)  ký  hợp  đồng  tiêu  thụ  với  công suất 4.000 m 3 /năm.

    (6) Nói về hiệu quả của dự án, ông  Đỗ Hữu Ngọc - Chủ nhiệm dự án  cho biết: về mặt kinh tế, nếu bán  gỗ xẻ không sấy thì lợi nhuận thu  được lớn hơn bán gỗ tròn khoảng  130.000  đồng/m 3 ,  còn  khi  bán  gỗ xẻ đã sấy lợi nhuận tăng lên  khoảng  370.000  đồng/m 3 .  Như  vậy, lợi nhuận công ty thu được  khi bán gỗ xẻ đã sấy so với không  sấy  hiện  tại  là  khoảng  240.000  đồng/m 3 , con số này chưa phải là  cao nhất do chi phí ban đầu (khấu  hao tài sản, thiết bị) còn lớn. Sau khi phát huy hết công suất, giảm  chi phí khấu hao tài sản, chi phí  nguyên liệu đốt nhờ tận dụng phế  phẩm từ quá trình xẻ gỗ, lợi nhuận  Công ty thu được sẽ cao dần lên.  Bên  cạnh hiệu  quả  kinh  tế  trực  tiếp, hệ thống sấy gỗ của Công  ty đi vào hoạt động còn tạo thêm  công  ăn  việc  làm  thường  xuyên  cho gần 30 công nhân.  

    (7) Về hiệu quả xã hội, dự án được  triển  khai  thành  công  đã  tạo  ra  sản  phẩm  mới  cho  địa  phương,  thúc  đẩy  phát  triển  nghề  trồng  rừng và công nghiệp chế biến gỗ  ở địa phương; tạo thêm công ăn  việc làm cho hàng nghìn lao động  vùng nguyên liệu, tăng thu nhập  cho người lao động, góp phần hỗ  trợ thiết thực cho chương trình xóa  đói giảm nghèo của tỉnh, nhất là ở  vùng sâu, vùng xa. Kết quả của  dự  án  còn  là  mô  hình  hữu  hiệu  giới  thiệu  việc  ứng  dụng  khoa  học và công nghệ phục vụ phát  triển kinh tế - xã hội nông thôn,  miền núi để nhân rộng ra các địa  phương khác.

(Nguồn: “Ứng dụng công nghệ mới trong sấy gỗ rừng trồng”, Công Minh, Tạp chí Khoa học & Công nghệ Việt Nam, số 9, năm 2019)

Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:

Mạch máu xấu - Nguyên nhân của bệnh tật và sự suy giảm tuổi thọ

    (1) Các mạch máu, còn được gọi  là  các  mao  mạch,  nằm  ở  khắp  cơ thể.  99% mạch máu của con  người  được  cho  là  mao  mạch.  Tổng  chiều  dài  của  các  mao  mạch trong cơ thể của con người  lên đến 100.000 km, tức là có thể  quấn vòng quanh Trái đất 2,5 lần.  Các  mao  mạch  có  vai  trò  quan  trọng trong việc duy trì hoạt động  sống  của  con  người,  giúp  con  người khỏe mạnh. Các mao mạch  khỏe mạnh có thể suy giảm mạnh  ở tuổi 40 trở đi, và đến tuổi 60 thì  khoảng 40% mao mạch trong cơ  thể bị suy giảm. Cùng với sự gia  tăng của tuổi tác, các mao mạch  suy giảm hoặc vỡ ra trở thành các  mạch máu xấu. Sự suy giảm các  mao mạch được các nhà khoa học  ví như những con tàu ma của hệ  thống tuần hoàn máu, ở đó chỉ tồn  tại những mao mạch trống rỗng  mà không có sự lưu thông máu.  

    (2) Mỗi mao mạch có đường kính  0,05-0,1 mm (khoảng 1/10 độ dày  của sợi tóc).  Bằng việc sử dụng  các  thiết  bị  chụp  ảnh  sinh  học  tối tân nhất với độ phân giải siêu  cao, các nhà khoa học đã đi sâu  tìm hiểu cơ chế và tác động của  những mao mạch xấu, từ đó tìm ra  các giải pháp để giúp con người  sống khỏe hơn và lâu hơn.  Qua  kính hiển vi và các thiết bị chuyên  dụng, có thể quan sát thấy sự biến  mất  của  các  mao  mạch. Những  nghiên cứu mới nhất đã tiết lộ cơ  chế  xuất  hiện  những  mạch  máu  xấu và phương pháp làm giảm sự  xuất hiện của chúng.

    (3) Các nhà khoa học tại Đại học  Y Keio (Nhật Bản) đã tập trung  nghiên  cứu  mối  quan  hệ  giữa  mạch  máu  xấu  và  tuổi  thọ  con  người.  Một  lượng  lớn  dữ  liệu  về  những người sống thọ và bí quyết  sống thọ đã được thu thập. Nhóm  người  được  nghiên  cứu  sống  ở  vùng  đô  thị  có  độ  tuổi  trong  khoảng 85-98. Những người này  được theo dõi 16 chỉ số trong cơ  thể, trong đó đặc biệt chú ý chỉ  số về sức khỏe của đôi chân, chỉ  số về sự tiến triển của xơ cứng  động mạch và điện tâm đồ. Đây  là những chỉ số rất quan trọng để  xác  định  mối  quan  hệ  giữa  các  mao mạch và tuổi thọ.

    (4) Các nhà khoa học đã sử dụng  một thiết bị có thể chụp và quan  sát các mao mạch để phát hiện  phạm vi các mạch máu xấu xuất  hiện trên cơ thể. Phạm vi của các  mạch  máu  xấu  xuất  hiện  ở  gốc  móng tay. Khu vực da mỏng ở gốc  móng tay giúp chúng ta quan sát  các mao mạch cũng như các tế  bào máu lưu thông một cách dễ  dàng.  

    (5) Đến  tháng  3/2019,  nhóm  nghiên  cứu  của  GS  Yasumichi  Arai (Đại học Y Keio) đã kiểm tra  mao mạch của 1.000 người cao  tuổi để đưa ra kết luận rõ ràng về  mối quan hệ giữa mạch máu và  tuổi  thọ.  Theo  đó,  sự  xuất  hiện  mạch  máu  xấu  càng  nhiều  và  càng sớm sẽ có ảnh hưởng tiêu  cực  đến  tuổi  thọ.  Họ  cũng  phát  hiện ra rằng, các mạch máu xấu  xuất hiện ở giai đoạn khi cơ thể  còn  tương  đối  trẻ  (20-30  tuổi).  Quá  trình  này  diễn  ra  nhanh  chóng khiến những vùng da xấu  không ngừng mở rộng.

    (6) Kẻ thù của sắc đẹp và nguyên nhân  của bệnh loãng xương

Mạch máu xấu không chỉ tác  động tiêu cực đến tuổi thọ mà nó  còn là kẻ thù của sắc đẹp. Những  mạch máu xấu hình thành nhiều  dưới da sẽ tiêu diệt các tế bào da,  khiến da trở nên nhăn nheo. Tại  Đại học Y Jichi (Nhật Bản), các  nhà  khoa  học  đã  áp  dụng  công  nghệ  mới  nhất  để  nghiên  cứu  hoạt  động  của  các  mao  mạch.  Trước đây, các nghiên cứu chưa  từng  quan  sát  một  cách  chi  tiết  những mao mạch nhỏ nhất trong  cơ thể. Tuy nhiên, nhờ những kỹ  thuật mới cho phép các nhà khoa  học  của  Đại  học  Y  Jichi  thành  công trong việc phát hiện những  mao mạch nhỏ nhất trong cơ thể  con  người.  Công  nghệ  mới  này  giúp chúng ta hiểu rõ hơn về tầm  quan  trọng  của  các  mao  mạch  cũng như hậu quả xảy ra khi các  mao mạch biến thành các mạch  máu xấu. Họ đã tiến hành nghiên  cứu mối liên hệ giữa mạch máu  xấu với các tế bào da.

    (7) Các  mao  mạch  có  nhiệm  vụ  cung cấp oxy và chất dinh dưỡng  cho các tế bào riêng lẻ trên khắp  cơ  thể.  Những  mao  mạch  này  đóng  vai  trò  quan  trọng  đối  với  sắc  đẹp  và  sức  khỏe  của  con  người.  Nếu  các  mạch  máu  xấu  hình  thành  dưới  da,  chúng  sẽ  ngăn chặn việc cung cấp oxy và  dinh dưỡng cho các tế bào, làm  tăng các tế bào tổn hại da, khiến  da mất khả năng hồi phục. Chúng  có thể làm cho da nhăn nheo và  chảy sệ. Khi các mạch máu xấu  xuất hiện sẽ  đẩy nhanh quá trình  lão hóa,  là  nguyên  nhân  gây  ra  một loạt các căn bệnh liên quan  như:  huyết  áp  cao,  tiểu  đường,  các chứng bệnh về tim mạch và  ung  thư...  Không  chỉ  có  vậy,  khi  cơ thể xuất hiện mạch máu xấu  sẽ  xuất  hiện  những  căn  bệnh  khác như tóc rụng; bàn tay, bàn  chân lạnh hơn nhiệt độ cơ thể do  lượng nhiệt vận chuyển qua mạch  máu đến chúng bị kém đi. Ngoài  ra,  các  mạch  máu  xấu  còn  ảnh  hưởng  trực  tiếp  đến  chức  năng  gan,  thận;  làm  giảm  hiệu  quả  của thuốc trong quá trình điều trị  bệnh, đặc biệt là những loại thuốc  rất  quan  trọng  trong  cuộc  chiến  chống ung thư.

    (8) Các  nhà  khoa  học  của  Viện  Max Planck (Đức) đã tìm ra mối  liên hệ giữa các mạch máu xấu  với  bệnh  loãng  xương.  Trong  nghiên  cứu  của  mình,  GS  Ralf  Adam (Viện Max Planck) đã tiến  hành thí nghiệm trên những con  chuột khỏe mạnh và những con  chuột già. Nhóm nghiên cứu của  ông đã tiên phong trong việc chụp  ảnh  thành  công  các  mao  mạch  trong  xương.  Những  hình  ảnh  cho  thấy,  những  con  chuột  già  bị loãng xương có rất ít các mao  mạch  trong  xương.  Nghiên  cứu  chỉ ra rằng, các mao mạch xấu và  trống rỗng làm loãng xương. Các  mao mạch có tác dụng cung cấp  canxi và các dưỡng chất giúp hình  thành  mô  xương  mới.  Khi  mao  mạch  trở  nên  xấu  đi,  việc  cung  cấp canxi cho xương không còn,  khiến các mô xương bị hoại tử.

    (9) Kẻ lấy cắp trí nhớ

    Nghiên cứu về vai trò của mạch  máu cũng như tác động tiêu cực  của mạch máu xấu đến não bộ,  lần đầu tiên, các nhà khoa học đã  phát hiện ra rằng, mạch máu xấu  là nguyên nhân gây ra chứng mất  trí nhớ. Các nhà khoa học thuộc  Đại học Nam California (Mỹ) đã  tập trung nghiên cứu yếu tố mấu  chốt liên quan đến các mao mạch  xấu trong não. Sử dụng kính hiển  vi đặc biệt, họ đã quan sát rất rõ  các tế bào nội mô. Những tế nào  này  hình  thành  giống  như  bức  tường của mạch máu, bên cạnh  những tế bào ngoại mạch. Những  tế bào nội mô tạo thành lớp niêm  mạc cho các mao mạch, giúp cho  máu tuần hoàn trong cơ thể; còn  những  tế  bào  ngoại  mạch  dính  chặt bên ngoài các mao mạch và  cố định ở đó. Các tế bào ngoại  mạch được dính kết lại để bảo vệ  cấu  trúc  các  mao  mạch.  Trong  các mao mạch khỏe mạnh, lượng  oxy và dinh dưỡng được liên kết  thông qua các lỗ hổng của tế bào  nội mô và vận chuyển đến các tế  bào xung quanh. Nhưng nếu các  tế  bào  ngoại  mạch  bắt  đầu  bóc  tách  làm  cho  phần  bảo  vệ  các  mao mạch không còn, khiến các  tế bào nội mô mất khả năng hỗ trợ  và trở nên yếu ớt. Những khoảng  trống  bên  trong  mao  mạch  trở  nên  rộng  hơn,  kết  quả  là  một  lượng lớn oxy và chất dinh dưỡng  bị  rò  rỉ  ra  ngoài.  Khi  đó,  máu  không  thể  lưu  thông  qua  những  chỗ bị rò rỉ, khiến các mạch máu  xấu không ngừng phát triển. GS  Berislav  Zlokovic  (Đại  học  Nam  California),  nhà  khoa  học  hàng  đầu  thế  giới  chuyên  nghiên  cứu  về các mạch máu não cho rằng,  tế bào ngoại mạch chỉ có ở những  mạch máu não, và “Tế bào ngoại  mạch  là  những  người  gác  cổng  các mao mạch trong não giúp tái  tạo protein. Nhưng nếu các tế bào  ngoại mạch tổn thương, nghĩa là  máu  không  thể  lưu  thông  bình  thường trong não”.

    (10) Nhóm  nghiên  cứu  của  GS  Berislav  Zlokovic  quyết  định  tìm  hiểu những triệu chứng xuất hiện  trong  não  khi  các  tế  bào  ngoại  mạch  biến  mất.  Để  làm  được  việc  đó,  họ  đã  thử  nghiệm  trên  những con chuột bình thường và  những con chuột bị giảm 25% khả  năng tự tạo ra tế bào ngoại mạch  thông qua kỹ thuật di truyền. Thử  nghiệm  của  nhóm  GS  Berislav  Zlokovic là cho 2 con chuột chạy  trên  bánh  xe  quay,  sau  đó  cho  dừng bánh xe quay một cách đột  ngột.  Kết  quả  cho  thấy,  những  con chuột khỏe mạnh dễ dàng xử  lý tình huống bằng cách tiếp tục  cho bánh xe quay, nhưng những  con chuột bị giảm 25% khả năng  tự  tạo  ra  tế  bào  ngoại  mạch  lại  không thể kiểm soát được bánh  xe.  Từ  đó,  họ  đi  đến  kết  luận,  những mao mạch xấu làm giảm  khả  năng  hoạt  động  của  não  trước những phản ứng đột ngột.  Điều này dẫn đến triệu chứng mất  trí nhớ.  

    (11) Trong  một  trường  hợp  khác,  các nhà nghiên cứu tại Bệnh viện  Đại  học  Ehime  và  Đại  học  Mie  (Nhật Bản) đã tiến hành một cuộc  kiểm tra sức khỏe đặc biệt, gọi là  kiểm tra chống lão hóa. Họ nghiên  cứu  những  bất  thường  của  não  ở giai đoạn sớm nhất để có thời  gian đưa ra các biện pháp trị liệu  hiệu quả nhất. Trong nghiên cứu  của mình, GS Hidekaru Tomimoto  (Đại học Mie, là một trong những  chuyên gia hàng đầu nghiên cứu  về vai trò của các mao mạch liên  quan tới chứng mất trí nhớ) nhận  thấy,  não  của  người  mắc  bệnh  Alzheimer có số lượng mao mạch  giảm  khoảng  29%  so  với  người  khỏe mạnh và những mạch máu  xấu  xuất  hiện  nhiều  hơn,  từ  đó  làm xuất hiện các Amyloid beta.  Các  nhà  khoa  học  tin  rằng,  khi  Amyloid  beta  xuất  hiện  với  số  lượng lớn trong não sẽ dẫn đến  tình  trạng  bệnh  Alzheimer.  Tuy  nhiên,  chứng  mất  trí  nhớ  không  chỉ  do  các  mạch  máu  xấu  gây  nên mà còn do các chứng bệnh  khác  gây  ra.  Nhưng  một  điều  chắc  chắn  rằng,  để  ngăn  chặn  bệnh Alzheimer thì điều cần làm  là phải ngăn chặn việc hình thành  các mạch máu xấu.

    (12) Nghiên cứu của các nhà khoa  học nêu trên cũng đã chỉ ra một số  nguyên nhân dẫn đến sự xuất hiện  của những mạch máu xấu trong cơ  thể như: ăn nhiều, hút thuốc lá, bị  huyết  áp  cao,  lười  tập  thể  dục...  Chính vì vậy, cách tốt nhất để ngăn  ngừa sự xuất hiện các mạch máu  xấu  là  duy  trì  một  lối  sống  lành  mạnh: ăn uống khoa học (không  ăn  quá  nhiều),  không  hút  thuốc  lá, tập thể dục hoặc chơi một môn  thể thao nào đó hàng ngày... Một  trong những giải pháp thú vị mà  các  nhà  khoa  học  khuyên  mọi  người  là  thường  xuyên  thực  hiện  động tác thể dục  nâng cao gót hai  chân trong khi duỗi thẳng cơ lưng  và sau đó thả gót chân xuống. Đây  là giải pháp đơn giản không cần sự  hỗ trợ của thiết bị, đồng thời có thể  thực hiện ở bất cứ thời gian và địa  điểm nào.

(Nguồn: “Mạch máu xấu - Nguyên nhân của bệnh tật và sự suy giảm tuổi thọ”, Đỗ Thị Thanh Huyền, Tạp chí Khoa học & Công nghệ Việt Nam, số 9, năm 2019)

Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:

Đôi điều hiểu biết về sinh vật ngoại lai ở Việt Nam

     (1) Sinh  vật  ngoại  lai  (exotic,  allochthonous  species)  là  một  thuật ngữ để chỉ một loài sinh vật  (vi  sinh,  nấm,  thực  vật  hay  động  vật) từ một đơn vị địa lý hành chính  (vùng  lãnh  thổ)  khác  xâm  nhập  vào và gây ra những tác hại, tiêu  cực cho môi trường hay con người.  Ở cấp quốc gia thì gọi là sinh vật  ngoại lai cho quốc gia đó; ở cấp  vườn  quốc  gia  hay  khu  bảo  tồn  thiên nhiên thì gọi là sinh vật ngoại  lai cho vườn/khu bảo tồn đó...

 (2) Theo  quy  luật  tự  nhiên,  sinh  vật không bao giờ “đứng yên” một  chỗ. Chúng thường xuyên và liên  tục vận động, phát tán một cách  chủ động do quần thể tăng trưởng  mạnh mà mở rộng vùng phân bố  hoặc di cư hay du cư... Cũng có  thể chúng được phát tán nhờ gió,  dòng hải lưu, chim, thú... Đặc biệt,  nhiều  sinh  vật  đã  nhờ  con  người  để đến nay trở thành loài phân bố  toàn cầu như gián Mỹ ( Periplaneta  americana )  hay  nhiều  loài  côn  trùng và sinh vật khác.  

     (3) Nói chung, sinh vật không quan  tâm đến “quy định hành chính của  con người”. Khả năng phát tán và  tồn tại của một loài sinh vật cụ thể  tùy thuộc vào chính khả năng thích  nghi sinh thái của loài đó. Do vậy,  trong  sinh  thái  học  mới  có  khái  niệm  như  “loài  rộng  sinh  cảnh”  (habitat) hay “hẹp sinh cảnh”; “loài  rộng nhiệt hay hẹp nhiệt”, “loài đơn  thực” (monophaga), “loài hẹp thực”  (oligophaga)  hay  loài  “đa  thực”  (polyphaga)... Người ta thường sử  dụng  khái  niệm  “thế  năng  sinh  thái/tiềm  năng  sinh  thái”  hoặc  “ổ  sinh thái/tổ sinh thái” để đánh giá  khả  năng  thích  nghi,  tồn  tại  của  một loài sinh vật trong một khu vực  địa lý nào đó. Như vậy, mỗi loài có  giới hạn vùng phân bố riêng phụ  thuộc vào các yếu tố sinh thái mà  con người cần biết để bảo tồn, khai  thác hay khống chế.

     (4) Trong hơn 20 năm gần đây có  một bộ phận các nhà sinh học và  môi  trường  đã  quan  tâm  tới  sinh  vật ngoại lai. Đặc biệt từ khi bùng  nổ nạn ốc bươu vàng gây hại cho  nông nghiệp. Thật ra, từ khi thành  lập các cơ quan kiểm dịch động,  thực vật đã có danh sách những  loài động, thực vật cần kiểm dịch,  tức không cấp “visa” vào Việt Nam.  Bởi vì đó là những loài động, thực  vật ngoại lai, nếu chúng theo hàng  hóa (ví dụ mọt kho, cỏ dại...) xâm  nhập vào Việt Nam sẽ phát dịch,  khó ngăn chặn và gây tổn hại cho  kinh tế. Bản danh sách kiểm dịch  rất  cụ  thể,  chi  tiết  và  theo  tiêu  chuẩn quốc tế trong giao thương.

     (5) Từ thời Pháp thuộc, người Pháp  đã đưa một số cây trồng từ châu  Phi, châu Đại Dương vào Việt Nam.  Trong khoảng thời gian mấy chục  năm  gần  đây,  do  “mở  cửa”  phát  triển kinh tế, chúng ta du nhập một  số cây, con để phát triển kinh tế.  Ví dụ, cây Ca cao, Mắc ca, Cao  lương, Sachi hay cây Phong lá đỏ  trồng ở Hà Nội, cây Anh Đào Nhật  Bản  ở  Đà  Lạt...  Một  số  cá,  chim  và  thú  cảnh  cũng  được  du  nhập  như một thời chúng ta đã nuôi vẹt  Hồng Kông, chó Nhật...  Điều này  thể  hiện  việc  chuyển  giao  động,  thực vật từ nơi này đến nơi khác, từ  quốc gia này sang quốc gia khác  diễn ra thường xuyên và liên tục.  Vấn đề đáng quan tâm là cần có  trình  độ  khoa  học  và  công  nghệ  phù hợp để đáp ứng yêu cầu bảo  vệ môi trường và phát triển kinh tế  bền vững.  Hiện  nay  trên  mạng  internet,  nếu tra từ khóa “sinh vật ngoại lai  ở Việt Nam”, sẽ có rất nhiều thông  tin từ danh sách những loài nguy hại  chính, vùng phát triển gây hại và đề  xuất  các  biện  pháp  phòng  ngừa...  Ví  dụ,  Nguyễn  Hồng  Sơn  (2015)  có bài “Hiện trạng và đề xuất giải  pháp  phòng  ngừa  sinh  vật  ngoại  lai xâm hại ở Việt Nam” đã nêu đối  tượng cây trinh nữ (cây dương), ốc  bươu vàng, bèo lục bình là những  loài  sinh  vật  ngoại  lai  nguy  hiểm  và  đề  xuất  biện  pháp  ngăn  ngừa.  Hiếu  Công  (2017)  ở  Viện  Nghiên  cứu nuôi trồng thủy sản II đã cung  cấp danh sách 5 loài sinh vật ngoại  lai nguy hại ở Sóc Trăng là cá chim  trắng, lau kính, rô phi thường, rô phi  vằn và ốc bươu vàng... Tuy có nhiều  thông tin về sinh vật ngoại lai ở Việt  Nam, nhưng cho đến nay chưa có  công trình nghiên cứu hệ thống và  thống kê đầy đủ những loài sinh vật  ngoại lai gây hại và không gây hại ở  Việt Nam. Nhìn chung các kết quả  còn phân tán và phiến diện.

     (6) Dưới  đây chúng tôi  xin  chia sẻ  một vài mẩu chuyện đã được chứng  kiến để suy ngẫm và các cơ quan  nghiên cứu, các cơ quan quản lý có  thể tham khảo.

     Câu chuyện thứ nhất:  cách đây  gần 30 năm, Cục Bảo vệ thực vật,  Bộ  Nông  nghiệp  (nay  là  Bộ  Nông  nghiệp và Phát triển nông thôn) đau  đầu  vì  những  người  buôn  thức  ăn  nuôi  chim  cảnh  đã  nhập  từ  Trung  Quốc về loại sâu bột (Tenebrio mo - litor). Loài này có trong danh sách  kiểm dịch thực vật. Bởi chúng có thể  ăn nhiều loại thức ăn như hạt hay bột  ngũ cốc, ngô hoặc quả tươi và rau  như cà rốt, khoai tây, đậu tương...  Ấu  trùng  loài  này  thường  được  sử  dụng làm thức ăn cho bò sát, cá, gia  cầm và cả con người. Ở Việt Nam,  sâu bột được coi là có nguồn gốc từ  Địa Trung Hải, nhưng chủ yếu nhập  khẩu từ  Trung Quốc  theo đường tiểu  ngạch. Một số báo địa  phương do  nhầm  lẫn  (không  phân  biệt  được  sâu bột với sâu quy) đã có những  bài  viết  cảnh  báo  cộng  đồng  về  nguy cơ tương tự như ốc bươu vàng.  Chúng tôi đã từng nuôi thử nghiệm  để thu con trưởng thành, nhưng thất  bại. Qua đây có thể thấy, mặc dù  nằm trong danh mục kiểm dịch thực  vật, nhưng sâu bột cũng có những  mặt lợi nếu chúng ta biết khai thác  hợp lý.  

     (7) Câu chuyện thứ hai:  khoảng vào  năm  2001-2002,  chúng  tôi  nhận  được  yêu  cầu  của  Cục  Thú  y,  Bộ  Nông  nghiệp  và  Phát  triển  nông  thôn  lên  Lạng  Sơn.  Bởi  vì,  Trạm  kiểm  dịch  động  vật  ở  Lạng  Sơn  thu giữ 200 hộp nuôi loài Kiến gai  đen  (Polyrhachis  dives)  do  người  Trung Quốc ở bên kia biên giới gửi  sang, nhờ nuôi gia công 3 tháng, rồi  chuyển trở lại để họ thu “trứng kiến”  (đúng  ra  là  nhộng  kiến).  Thời  giá  lúc ấy 1 kg trứng kiến là 350 USD,  tương đương gần 8 triệu đồng. Khi  đó ở Lạng Sơn có việc  “tạm nhập,  tái  xuất”  kiến  đông  lạnh,  mỗi  lần  khoảng 5,5 tấn kiến. Chúng tôi đã  ở lại Lạng Sơn gần 1 tuần để điều  tra, khảo sát về Kiến gai đen giống  như mẫu kiến đang nuôi chuyển từ  Trung Quốc sang, có mặt trong tự  nhiên ở vùng Lạng Sơn hay không?  Kết quả chúng tôi tìm được một tổ  kiến ở ven suối, cách TP Lạng Sơn  khoảng  15  km.  Như  vậy,  Kiến  gai  đen đã phân bố ở Việt Nam từ trước.  Năm 2017, Bùi Thanh Vân đã bảo  vệ luận án tiến sỹ về kiến cũng tìm  thấy Kiến gai đen ở ngoại ô Hà Nội.

     (8) Trong  cuộc  họp  với  các  đơn  vị  hữu quan ở Hà Nội, chúng tôi có đề  nghị nên khoanh vùng để tiếp tục  nuôi Kiến gai đen, tranh thủ học tập  kỹ thuật nhân nuôi từ Trung Quốc.  Khi chúng tôi trở lại Lạng Sơn để  muốn  cùng  Trạm  kiểm  dịch  động  vật Lạng Sơn tiếp tục nhân nuôi và  theo dõi, học tập cách nhân nuôi và  khai thác Kiến gai đen, thì đáng tiếc  200 hộp nuôi kiến đã bị đốt vì áp  lực từ nhiều phía. Sau này có một  vài  nhóm  cán  bộ  khoa  học  thuộc  lĩnh vực hóa học và y học cổ truyền  biết được giá trị của Kiến gai đen đã  nghiên cứu và đưa ra sản phẩm bổ  dưỡng từ Kiến gai đen thu được ở  Vĩnh  Phúc.  Ở  các  nước  phát  triển  họ  rất  giỏi  trong  nhân  nuôi  động,  thực vật để khai thác, ví dụ nuôi côn  trùng  bằng  thức  ăn  nhân  tạo  (lập  công ty, thành hàng hóa và có cả  sách hướng dẫn đầy đủ) còn chúng  ta lại ít quan tâm đến vấn đề này.

     (9) Câu chuyện thứ ba:  khi làm luận  án  tiến  sỹ  ở  CHDC  Đức  (1969- 1973), chúng tôi đã nhân nuôi loài  mọt Cứng đốt ( Trogoderma grana - rium , một đối tượng được coi là rất  nguy  hiểm  vì  có  trong  danh  mục  kiểm dịch quốc tế) để nghiên cứu về  cơ chế giao tiếp sinh học của chúng.  Ở các nước phát triển người ta còn  du nhập một số loài bọ cánh cứng  ăn thịt (những đối tượng được coi là  nguy hại cho sản xuất) để tiêu diệt  đối tượng gây hại trên đồng ruộng  (biện pháp phòng trừ sinh học)... Ở  Việt Nam cũng đã du nhập một loài  côn trùng (có trong danh mục kiểm  dịch thực vật) để tiễu trừ sâu hại dừa  ở miền Trung. Điều này có nghĩa,  chúng ta cần phải tiếp cận và hiểu  biết những sinh vật lạ để sử dụng  hay khống chế một cách khoa học  và thông minh, chủ động.

     (10) Một  số  câu  chuyện  như  vậy  để  thấy đề tài sinh vật ngoại lai ở Việt  Nam rất đa dạng và phức tạp. Việc  nghiên cứu về những sinh vật này ở  nước ta hiện nay chưa đầy đủ, thiếu  cơ sở khoa học. Không thể một đơn  vị nghiên cứu, hay một nhà khoa học  có thể nắm bắt và giải quyết được  hết các vấn đề của sinh vật ngoại lai.  Do vậy, để sử dụng hay khống chế  chúng một cách khoa học, thiết nghĩ  cần  tập  hợp  một  lực  lượng  chuyên  gia thuộc các lĩnh vực liên quan tổng  điều  tra,  khảo  sát,  đánh  giá,  phân  tích để có giải pháp xử lý phù hợp,  hiệu quả.

(Nguồn: “Đôi điều hiểu biết về sinh vật ngoại lai ở Việt Nam”, Bùi Công Hiển, Tạp chí Khoa học & Công nghệ Việt Nam, số 9, năm 2019)

Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:

Plasma và ứng dụng trong y học

    (1) Plasma là gì? Plasma là trạng thái thứ 4 của  vật chất (ngoài 3 thể thường gặp  là rắn, lỏng và khí), trong đó các  chất bị ion hóa mạnh. Ví dụ với  nước, một viên nước đá (thể rắn)  đun nóng đến nhiệt độ nhất định  thì  thành  thể  lỏng  (nước),  tăng  nhiệt lên nữa nước sẽ bốc thành  hơi  (thể  khí).  Nếu  tiếp  tục  tăng  nhiệt độ lên cao nữa, các electron  mang điện âm bắt đầu bứt khỏi nguyên tử và chuyển động tự do,  nguyên tử trở thành các ion mang  điện dương. Nhiệt độ càng cao thì  số electron bứt ra khỏi nguyên tử  chất  khí  càng  nhiều,  hiện  tượng  này  gọi  là  sự  ion  hóa  của  chất  khí.  Các  nhà  khoa  học  gọi  thể  khí ion hóa là “trạng thái plasma”.  Plasma  không  phổ  biến  trên  trái  đất,  tuy  nhiên  trên  99%  vật  chất    thấy được trong  vũ trụ  tồn tại  dưới dạng plasma, vì thế trong 4  trạng thái vật chất, plasma được  xem như trạng thái đầu tiên trong  vũ trụ.

    (2) Theo tính chất nhiệt động lực  học,  công  nghệ  plasma  hiện  có  plasma  nóng  (thermal  plasma)  được  tạo  thành  ở  nhiệt  độ,  áp  suất  và  năng  lượng  cao;  và  plasma lạnh (cold plasma ) được  tạo thành ở áp suất thường hoặc  chân  khôn g,  cần  ít  năng  lượng  hơn. Trong khoảng hơn 10 năm  trở lại đây, các nước tiên tiến trên  thế giới đã tập trung nhiều nguồn  lực cho việc nghiên cứu ứng dụng  plasma  lạnh  trong  các  lĩnh  vực  như  y  sinh,  hóa  học  hay  nông  nghiệp... Đối với lĩnh vực y học,  plasma lạnh đang chứng tỏ được  tiềm năng rất lớn, được đánh giá  là tác nhân quan trọng tạo ra cuộc  cách mạng mới trong y sinh của  thế kỷ XXI.

    (3) Từ  lâu,  tính  năng  diệt  khuẩn  của  plasma  nóng  hay  plasma  lạnh  đã  được  biết  và  sử  dụng  trong vệ sinh dịch tễ và y tế. Tuy  vậy, plasma nóng có thể làm hại  đến  mô  xung  quanh  nên  khá  hạn  chế  dùng  trên  người.  Năm  2005,  plasma  lạnh  áp  suất  khí  quyển  (CAP)  lần  đầu  tiên  được  sử dụng để điều trị lâm sàng tại  CHLB Đức, mở ra kỷ nguyên của  “y học plasma”. Để phát triển các  thiết bị plasma lạnh áp suất khí  quyển cần sự cộng tác liên ngành  của các nhà vật lý, hóa học, sinh  học... và tất nhiên là cả các bác  sỹ lâm sàng.   

    (4) Khả năng làm bất hoạt các vi  sinh  vật  trên  bề  mặt  mà  không  làm ảnh hưởng hay ảnh hưởng rất  ít  đến  các  cấu  trúc  xung  quanh  của  plasma  đã  thu  hút  được  sự  quan  tâm  của  các  bác  sỹ.  Trên  thực tế, có rất nhiều bệnh tật gây  ra do nhiễm khuẩn trên da lành  cũng như vết thương. Vì vậy, điều  trị các vết thương chậm liền ở da  trở  thành  một  trong  những  đối  tượng  nghiên  cứu  đầu  tiên  của  plasma y tế. Thiết bị plasma lạnh  đầu  tiên  vượt  qua  thử  nghiệm  lâm sàng pha I và được cho phép  tác động trực tiếp lên con người  là máy MicroPlaster alpha, được  phát  triển  bởi  Viện  Max  Planck  (CHLB  Đức)  và  Công  ty  Công  nghệ Plasma Adtec (Nhật Bản).  

    (5) Các thử nghiệm lâm sàng đã  chứng minh, plasma lạnh rất hiệu  quả  khi  điều  trị  các  vết  thương  chậm  liền,  nhiễm  khuẩn.  Sở  dĩ  như vậy vì plasma đã tiêu diệt các  vi sinh vật cản trở quá trình liền  vết thương như: vi khuẩn, virus và  nấm. Khi tiếp xúc với vi sinh vật, plasma có thể phá vỡ màng tế bào  của chúng nhờ sự bắn phá của ion  và electron cũng như sự ăn mòn  của các gốc tự do, hoạt chất. Các  gốc tự do và tia cực tím còn có  thể xuyên qua màng tế bào của  vi sinh vật để làm mất hoạt tính  của protein, khi ến cho vi sinh vật  không thể hoạt động. Không chỉ  tiêu diệt vi khuẩn đơn lẻ, plasma  còn phá hủy màng sinh học do vi  khuẩn  tạo  ra  (màng  giúp  cho  vi  khuẩn chống chịu tốt hơn với điều  kiện bất lợi, khiến cho vết thương  khó lành).  Không chỉ tiêu diệt vi  khuẩn  thường,  plasma  còn  tiêu  diệt được vi khuẩn kháng kháng  sinh  do  plasma  là  tác  nhân  vật  lý, và đa tác nhân nên vi khuẩn  không thể biến đổi để hình thành  khả năng kháng plasma (điều này  rất hữu ích vì như chúng ta biết tốc  độ vi khuẩn phát triển thành kháng  thuốc nhanh hơn rất nhiều so với  tốc độ xuất hiện của thuốc kháng  sinh mới). Bên cạnh đó, plasma  giúp tạo nên một lớp màng protein  trên bề mặt vết thương, chống vi  khuẩn tái xâm nhập. Plasma cũng  giúp cơ thể giải phóng các yếu tố  hỗ trợ liền vết thương nhanh hơn  (như  tăng  lưu  thông  máu,  tăng  sinh tân mạch, tiêu diệt nội độc  tố,  giảm  viêm,  giảm  đau,  tăng  sinh  tế  bào,  tăng  sinh  collagen,  kích thích tái tạo biểu bì). Do đó  có thể dùng plasma điều trị các  vết thương cấp tính như bỏng, vết  mổ, các vết thương mạn tính (loét  do đái tháo đường, loét do tì đè,  loét do nằm lâu...), ứng dụng trong  da liễu (điều trị nấm, chàm...) và  thẩm  mỹ  (chữa  mụn  trứng  cá,  vết thương sau phẫu thuật thẩm  mỹ)...  Các  nghiên  cứu  mới  đây  còn cho thấy plasma có rất nhiều  triển  vọng  trong  chữa  ung  thư,  đặc biệt là ung thư máu.

    (6) Hiện  nay,  công  nghệ  plasma  lạnh ứng dụng trong điều trị vết  thương hở đã được áp dụng tại một  số quốc gia:  Đức, Israel, Nga.  Ở  Việt Nam, Công ty Cổ phần Công  nghệ Plasma Việt Nam là đơn vị  đầu tiên nghiên cứu sản xuất máy  phát tia plasma lạnh (PlasmaMed)  ứng dụng cho điều trị vết thương  dựa trên sáng chế “Máy phát tia  plasma  lạnh  ứng  dụng  trong  y  sinh”  số  14627  do  Cục  Sở  hữu  trí tuệ cấp ngày 29/9/2015. Máy  PlasmaMed do Công ty sản xuất  được  nghiên  cứu  và  phát  triển  từ các đề tài KH&CN cấp cơ sở:  “Thiết kế, chế tạo nguồn plasma  jet  phục  vụ  nghiên  cứu  plasma  y  sinh”;  “Nghiên  cứu  khả  năng  điều trị một số bệnh da liễu bằng  plasma lạnh”... do các nhà khoa  học thuộc Viện Vật lý, Viện Hàn  lâm  Khoa  học  và  Công  nghệ  (KH&CN)  Việt  Nam  thực  hiện.  Sản phẩm cũng đã nhận được sự  hỗ trợ của Chương trình Đối tác  đổi mới sáng tạo Việt Nam - Phần  Lan IPP giai đoạn 2 (IPP2) và Dự  án  Đẩy  mạnh  đổi  mới  sáng  tạo  thông  qua  nghiên  cứu,  KH&CN  (FIRST) do Bộ KH&CN quản lý.  

    (7) Hiện nay, máy PlasmaMed đã  được  áp  dụng  điều  trị  tại  nhiều  bệnh viện tuyến trung ương như:  Việt  Đức,  Phụ  sản  trung  ương,  Nhi trung ương, Lão khoa, Nội tiết  trung ương, Chợ Rẫy... và nhiều  bệnh  viện  tuyến  dưới,  với  trên  10.000  ca  điều  trị.  Kết  quả  cho  thấy đây là một hướng điều trị vết  thương  cho  hiệu  quả  cao,  giảm  đáng kể chi phí điều trị.

    (8) Trên thế giới hiện có ngày càng  nhiều  nghiên  cứu  về  plasma,  cũng như phát triển plasma lạnh.  Ngoài lĩnh vực y học, plasma lạnh  còn có khả năng ứng dụng trong  nhiều  lĩnh  vực  công  nghệ  khác  như chế tạo linh kiện điện tử, xử  lý bề mặt sơn phủ, bảo quản thực  phẩm...  Đây  là  cơ  hội  cho  Việt  Nam tiếp cận với xu hướng phát  triển của thế giới. Đặc biệt là xu  hướng nghiên cứu y học plasma,  một hướng khoa học liên ngành  (vật lý - sinh học - y học) có tiềm  năng  ứng  dụng  rất  lớn,  nhưng  không  đòi  hỏi  trang  thiết  bị  đắt  tiền, sẽ mở ra một cánh cửa để  ngành vật lý plasma ở Việt Nam  có  thể  song  hành  cùng  vật  lý  plasma thế giới.  

(Nguồn: “Plasma và ứng dụng trong y học”, Đỗ Hoàng Tùng, Tạp chí Khoa học & Công nghệ Việt Nam, số 9, năm 2019)

Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:

Nghiên cứu mới về siêu dẫn gần nhiệt độ phòng

    (1) Vật  liệu  được  coi  là  chất  siêu  dẫn  khi  năng lượng điện được  truyền đi với hiệu suất  100%.  Các chất siêu dẫn có thể  ứng dụng trong một loạt các thiết  bị như máy chụp cộng hưởng từ  trong  bệnh  viện.  Tuy nhiên,  sự  phát triển của các ứng dụng này  đã bị cản trở bởi vì trạng thái siêu  dẫn chỉ xuất hiện tại nhiệt độ thấp  hơn nhiệt độ phòng (295 K).  Trong  một  bài  báo  mới được  công  bố  trên Tạp chí Nature * , Drozdov và  các cộng sự đã  báo cáo một kết  quả đáng ngạc nhiên về tính chất  siêu dẫn của lanthanum hydride.  Khi bị nén tại một áp suất lớn hơn  một  triệu  lần  áp  suất  khí  quyển  của  trái  đất,  lanthanum  hydride  sẽ xuất hiện tính chất siêu dẫn ở  nhiệt độ 250 K - nhiệt độ cao nhất  của chất siêu dẫn từng được biết  đến.

    (2) Siêu  dẫn  được  phát  hiện  lần  đầu tiên trong thủy ngân tại nhiệt  độ dưới 4 K vào năm 1911. Nhiệt  độ  mà  tại  đó  vật  liệu  trở  thành  chất siêu dẫn được gọi là nhiệt độ  tới hạn.  Sau khi phát hiện ra siêu  dẫn, người ta thấy rằng cần thiết  phải tìm kiếm các vật liệu có nhiệt  độ tới hạn lớn hơn 4 K.  Trong hơn  một thế kỷ qua, nhiều chất siêu  dẫn đã được phát hiện, giá trị của  nhiệt độ tới hạn liên tiếp được cải  thiện và dần hướng tới mục tiêu  cuối  cùng  là  bằng  với  nhiệt  độ  phòng  (25 o C,  tương  đương  với  298 K).

    (3) Drozdov và  các  cộng  sự  đã  phá vỡ kỷ lục vào năm 2014 khi  họ  phát  hiện  ra  rằng  hydrogen  sulfide (một chất gây ra mùi thối  của  trứng  gà)  thể  hiện  tính  chất  siêu  dẫn  tại  nhiệt  độ  tới  hạn  khoảng  200  K  khi  nó  được  nén  với  một  áp  suất  gấp  2  triệu  lần  áp  suất  khí  quyển.  Sau  đó,  vào  năm 2018, hai nhóm nghiên cứu  độc  lập  (Drozdov  và  cộng  sự;  Somayazulu và cộng sự) đã công  bố  gần  như  đồng  thời  kết  quả  nghiên  cứu  của  mình  với  khẳng  định,  lanthanum  hydride  có  thể  xuất hiện tính chất siêu dẫn ở nhiệt  độ cao hơn (từ 215 đến 280 K).

    (4) Đặc điểm chung của các chất  siêu  dẫn  hydrogen  sulfide  và  lanthanum  hydride  là  chúng  rất  giàu hydro và tính chất siêu dẫn  chỉ  xuất  hiện  dưới  một  áp  suất  cực cao (hơn một triệu lần áp suất  khí quyển).  Trong điều kiện khắc  nghiệt như vậy, các liên kết hóa  học bị thay đổi đáng kể và hình  thành các cấu trúc mới không ổn  định.  Trong trường hợp lanthanum  hydride, áp suất cao đã dẫn đến  sự hình thành cấu trúc LaH 10 , cấu  trúc  hóa  học  này  có  hàm  lượng  hydro cao hơn nhiều so với cấu  trúc của lanthanum hydride tại áp  suất khí quyển.

    (5) Để đạt được áp suất cực cao  (gần bằng một nửa áp suất tại lõi  của trái đất), Drozdov và các cộng  sự đã sử dụng một thiết bị gọi là  tế bào đe bằng kim cương.  Thiết  bị này có thể nằm gọn trong lòng  bàn tay và tạo áp lực bằng cách  nén  mẫu,  trong  đó  mẫu  được  nằm trong một lá kim loại mỏng,  giữa hai viên kim cương có hình  dạng dẹt. Tuy nhiên cần  lưu  ý  rằng,  với  cấu  tạo  này  chỉ  một  số  phép  đo  là  có  thể  thực  hiện được,  vì mẫu có kích thước  rất nhỏ (~0,01 mm) và được bao  quanh bởi các lá kim loại và kim  cương  có  kích  thước  tương  đối  lớn.    Hơn nữa, để có thể đo được  độ  dẫn  điện,  các  dây  dẫn  điện  cần phải tiếp xúc với mẫu, nhưng  phải cách ly điện bằng giấy bạc.

    (6) Các  tác  giả  đã  vượt  qua  được  những  thách  thức  trong  việc  thiết  kế thí nghiệm  siêu dẫn với áp suất  cực cao và đã báo cáo những kết  quả  quan  trọng  về  tính  chất  siêu  dẫn tại nhiệt độ cao của lanthanum  hydride.  Để chứng minh rằng một  vật liệu là siêu dẫn, các nhà nghiên  cứu  thường  kiểm  tra  3  tính  chất  của vật liệu như sau: điện trở bằng  không, sự  giảm nhiệt độ tới hạn dưới  một từ trường  và từ thông bị đẩy ra  khỏi  bên  trong  vật  liệu  (một  hiện  tượng  vật  lý  được  gọi  là  hiệu  ứng  Meissner).  Drozdov  và  các  cộng  sự đã phát hiện ra 2 đặc tính đầu  tiên của chất siêu dẫn.  Đặc tính cuối  cùng - hiệu ứng Meissner đã không  thể quan sát được vì các mẫu quá  nhỏ.

    (7) Việc tìm kiếm tính chất siêu dẫn  nhiệt độ cao trong các vật liệu giàu  hydro có thể được liên kết với các  dự đoán trước đó vào năm 2004. Dự  đoán này dựa trên một lý thuyết cho  rằng các nguyên tố với khối lượng  nguyên tử thấp có thể đóng góp vào  giá trị nhiệt độ tới hạn cao.  Hydro  là nguyên tố nhẹ nhất trong bảng  tuần hoàn, do đó tối ưu cho nhiệt  độ tới hạn cao.  Dựa trên logic này,  việc thay thế hydro bằng một đồng  vị  deuterium  nặng  hơn  sẽ  dẫn  tới  giảm nhiệt độ tới hạn.  Drozdov và  các cộng sự đã quan sát tính chất  siêu  dẫn  với  đồng  vị  này  và  thấy  rằng nhiệt độ tới hạn của lanthanum  deuteride thấp hơn so với lanthanum  hydride. Kết luận này gần như chính  xác theo dự đoán của lý thuyết.

    (8) Từ quan điểm khoa học, những  kết quả này cho thấy chúng ta đang  bước  vào  giai  đoạn  chuyển  đổi  từ  tìm  kiếm  chất  siêu  dẫn  bằng  thực  nghiệm,  trực  giác  hoặc  may  mắn  sang tìm kiếm chất siêu dẫn dựa trên  các hướng dẫn được dự đoán bởi lý  thuyết. Nhiệt độ tới hạn của vật liệu  siêu dẫn từ lâu đã được coi là một  trong  những  tính  chất  khó  có  thể  tính toán chính xác.  Tuy nhiên, các  thực nghiệm trên hydrogen sulfide  và lanthanum hydride đã được thúc  đẩy bởi các kết quả từ tính toán lý  thuyết.  Những thành công đáng chú  ý này dường như được thúc đẩy bởi  các tiến bộ trong các phương pháp  tính toán gần đây.

    (9) Tầm quan trọng thực tế của tính  chất  siêu  dẫn  trong  các  vật  liệu  được tổng hợp với số lượng cực nhỏ  tại một áp suất lớn hơn áp suất khí  quyển một triệu lần là gì?  Câu trả  lời phụ thuộc vào việc các trạng thái  siêu dẫn có thể được phục hồi tại  áp suất khí quyển hay không.  Bản  thân kim cương là một ví dụ về vật  liệu  được  hình  thành  tại  áp  suất  cao nhưng có thể tồn tại trong áp  suất  khí  quyển.  Nỗ  lực  sản  xuất  kim cương tổng hợp cung cấp động  lực đáng kể cho sự phát triển của  các phương pháp thực nghiệm với  áp  suất  cao.  Tuy  nhiên,  ngày  nay  kim cương tổng hợp được phát triển  bằng cách sử dụng một kỹ thuật với  áp  suất  thấp  gọi  là  lắng  đọng  hơi  hóa học.  Về mặt lạc quan, cuối cùng  có thể sử dụng các phương pháp với  áp suất thấp tương tự để tạo ra các  chất siêu dẫn siêu bền được phát  hiện ban đầu tại áp suất cao.

    (10) Trong vài năm tới, các thí nghiệm  có  thể  sẽ  tập  trung  vào  việc  tìm  kiếm tính siêu dẫn trong các vật liệu  giàu hydro có áp suất thấp hơn.  Do  đó dường như nhiều khả năng giấc  mơ  siêu  dẫn  nhiệt  độ  phòng  có  thể được thực hiện trong tương lai  gần.  Tại  thời  điểm  đó,  thách  thức  lớn  sẽ  chuyển  từ  đẩy  nhiệt  độ  tới  hạn lên cao hơn sang đẩy áp suất  cần thiết xuống thấp hơn.

(Nguồn: “Nghiên cứu mới về siêu dẫn gần nhiệt độ phòng”, Nguyễn Tuấn Hưng, Tạp chí Khoa học & Công nghệ Việt Nam, số 9, năm 2019)

Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:

Nghiên cứu bảo tồn và khai thác tài nguyên côn trùng ở Việt Nam: tại sao không?

   (1) Thế  giới  côn  trùng  vô  cùng  phong  phú  và  đa  dạng,  chúng  là  sản  phẩm  kỳ  diệu  của  thiên  nhiên. Trong tự nhiên, không lớp  động vật nào có thể so sánh với  côn trùng về độ phong phú đến  kỳ  lạ  của  thành  phần  loài.  Các  nhà khoa học ước tính côn trùng  có  tới  7-8  triệu  loài,  nhưng  mới  chỉ có khoảng 1 triệu loài đã được  xác định. Để bù lại kích thước cơ  thể nhỏ bé, côn trùng có sức sinh  sản  và  phát  triển  cực  nhiều  và  cực nhanh, tạo ra sinh khối lớn.  

 (2) Theo dự báo của các nhà côn  trùng  học  Hà  Lan  (2012),  sâu  Gạo  hay  sâu  Quy  (Zophobas  morio)  có  lẽ  không  xa  sẽ  soán  ngôi  tất  cả  các  loại  thực  phẩm  dinh dưỡng như thịt gà, bò, lợn,  sữa...  để  trở  thành  nguồn  cung  cấp protein chính cho loài người  trong  tương  lai.  Việc  nuôi  sâu  Gạo  chỉ  chiếm  10%  diện  tích  đất so với nuôi bò, 30% diện tích  dành cho việc  chăn nuôi lợn, 40%  diện tích dành  nuôi gà, trong khi  mức cung cấp  chất đạm  của loài  sâu này lại cao tương đương với  các loại thực phẩm nêu trên. Từ  hàng chục năm qua, người Trung  Quốc đã nuôi nhân tạo kiến Gai  đen  (Polyrhachis  dives)  để  thu  trứng kiến (thật ra là nhộng kiến)  bán với giá 350 USD/kg hay chế  biến thành rượu kiến, cũng như ở  Papua New Guinea, người nông  dân lập trang trại nuôi bướm xuất  khẩu  và  thu  lợi  bình  quân  đạt  5.000  USD/người/năm...  Trong  khi đó thực tế ở Việt Nam, đã từ  lâu người dân vẫn thường xuyên  thu  bắt  côn  trùng  tự  phát  theo  cách tận diệt về làm thực phẩm  hay thuốc chữa bệnh.

   (3) Người Mexico dìm những tấm  vải xuống nước để Cà cuống đẻ  hàng triệu trứng vào đó, rồi thu  trứng đem phơi khô và dùng làm  bánh ngọt. Ở Ấn Độ, nhiều bộ tộc  đã ăn kiến, châu chấu, ấu trùng  và  nhộng  của  một  số  loài  cánh  cứng, bướm, ong... Ở Irắc, hàng  năm có khoảng 35 tấn côn trùng  được  thu  thập  và  bán  trên  thị  trường để dùng làm thực phẩm. Ở  các nước công nghiệp phát triển  (Mỹ, Hà Lan), người ta chế biến  côn trùng thành đồ hộp hay đặt  thêm  vào  các  loại  bánh.  Ngoài  việc khai thác côn trùng làm thực  phẩm, hướng khai thác côn trùng  phục  vụ  du  lịch  và  làm  đồ  mỹ  nghệ (hình 1) rất phát triển. Hàng  năm, Hồng Kông sử dụng khoảng  gần 1 triệu cá thể côn trùng để  làm các sản phẩm trang sức hoặc  đồ tiện dụng.

   (4) Theo tổ chức Lương thực nông  nghiệp  Liên  hợp  quốc  (FAO),  hiện  nay  ở  các  quốc  gia  phát  triển  như  Pháp,  Ý,  Nhật  Bản...  và  các  nước  châu  Á  như  Thái  Lan,  Trung  Quốc,  Campuchia,  Malaysia, Singapore... côn trùng  được  sử  dụng  làm  thức  ăn  rất  nhiều, được bày bán dọc đường  và trong các nhà hàng lớn. Đồng  thời, tổ chức FAO cũng đưa ra dự  báo côn trùng sẽ là nguồn thực  phẩm chính trong tương lai.

   (5) Julieta  Ramos  (2014)  cho  rằng, trên thế giới có ít nhất 3.000  nhóm sắc tộc ở 113 quốc gia ăn  côn  trùng  và  số  lượng  loài  côn  trùng có thể ăn được là khoảng  1.400 loài. Các công bố khoa học  gần  đây  cho  biết,  số  lượng  loài  côn trùng làm thực phẩm ở Trung  Quốc là 40 loài, Thái Lan là 134,  Myanmar là 15, Indonesia là 30  và Philippine là 19 loài.

   (6) Bên cạnh đó, việc xây tạo các  vườn  bướm  hay  nhà  bướm  để  khách tham quan cũng phát triển  ở nhiều nước Đông Nam Á (hình  2). Từ rất lâu đã hình thành các  công  ty  buôn  bán  côn  trùng  và  người ta gọi là “nhánh kinh tế côn  trùng”.

   (7) Trong  khoảng  hơn  10  năm  gần đây, một số cán bộ khoa học  trẻ đã quan tâm nghiên cứu các  đối  tượng  côn  trùng  có  ý  nghĩa  kinh tế như luận án tiến sỹ của  Phan  Anh  Tuấn  (2006)  về  sâu  Chít   ( Brihaspa   atrostigmella Moore),  Vũ  Văn  Liên  (2008)  về  các  loài  Bướm  (Lepidoptera),  Hoàng   Thị   Hồng   Nghiệp  (2015)  về  sâu  Tre  ( Omphisa   fuscidentalis ),  Bùi  Thanh  Vân  (2018)  về  kiến  (Formicidae),  Phạm Hữu Hùng (2019) về Cánh  cứng (Coleoptera) và những kết  quả  đề  tài  nghiên  cứu  về  nhân  nuôi  Cà  cuống  của  Vũ  Quang  Mạnh (1999), côn trùng làm thực  phẩm  của  Phạm  Quỳnh  Mai  (2015)... Kết quả nghiên cứu về  côn  trùng  làm  thực  phẩm,  dược  liệu phải kể đến nghiên cứu của  Vũ  Quốc  Trung  (2007)  đã  nêu  chi tiết 39 loài côn trùng được sử  dụng trong y học cổ truyền của  Việt Nam như bộ Gián ( Blattodea hay  Dyctioptera ) có Gián phương  Đông ( Blatta orientalis ), Gián đất  ( Eupolyphaga sinensis ); bộ Cánh  cứng (Coleoptera) có bọ Thẹt, bọ  Xịt, bọ Đánh rắm ( Pheropsophys  jessoensis ),   Xén   tóc   hoa  ( Anoplophora  chinensis ),  Xén  tóc  dâu  ( Apriona  germari ),  Xén  tóc  nâu  ( Nadezhdiella  cantori ),  Đom đóm ( Luciola vitticollis ), Ban  miêu  đen  vạch  trắng  ( Epicauta  gorhami ), Ban miêu khoang vàng  ( Mylabris  phalerata ),  bọ  hung  (con đực) ( Catharsius molussus ),  Sùng đất, Đuông dừa ( Holotrichia  morosa ),  bọ  Dừa  ( Lepidiota  bimaculata ), Mọt khuẩn đen, con  Quy  ( Alphitobius  diaperinus )...  Hoàng Thị Hồng Nghiệp (2017)  đã  cung  cấp  danh  sách  34  loài  Hình 2. Một kiểu nhà bướm. 49 Soá 10 naêm 2019 Khoa học và đời sống côn  trùng  lâm  nghiệp  làm  thực  phẩm  có  thể  ăn  được  ở  vùng  Tây  Bắc  nước  ta.  Cụ  thể,  bộ  Chuồn  chuồn  (Odonata)  có  loài  Chuồn  chuồn  ớt  ( Crocothemis  servilia ); bộ bọ Ngựa (Mantodea)  có  bọ  Ngựa  xanh  ( Hierodula  patellifera )  và  bọ  Ngựa  Trung  Quốc  ( Tenodera  sinensis );  bộ  Mối  (Isoptera)  có  các  loài  mối  đất thuộc giống Macrotermes và  Odontotermes;  bộ  Cánh  thẳng  (Orthoptera)  có  Cào  cào  nhỏ  ( Atractomorpha  sinensis ),  Châu  chấu lúa ( Oxya chinensis ), Muỗm  xanh ( Euconocephalus incertus ),  Muỗm   nâu   ( Euconocephalus  broughtoni ),  Dế  dũi  ( Gryllotalpa  orientalis ),  Dế  mèn  nâu  lớn  ( Tarbinskiellus    portentosus )  và  Dế  mèn  nâu  nhỏ  ( Gryllus  testaceus ) ...   Với  các  loài  côn  trùng  sử  dụng  làm  vật  liệu  văn  hóa  phẩm,  giáo  dục  và  du  lịch  có  thể  đạt  tới  hàng  nghìn  loài  thuộc rất nhiều bộ, đặc biệt là bộ  Cánh  cứng  (Coleoptera),  Cánh  vảy (Lepidoptera), Chuồn chuồn  (Odonata)...  tùy  theo  vùng  sinh  thái và khả năng nhân nuôi.

   (8) Từ  các  kết  quả  nghiên  cứu  khác  nhau,  có  thể  nhận  thấy,  nhiều loài côn trùng có ý nghĩa  kinh tế là những loài đặc hữu và  đang  bị  khai  thác  một  cách  tận  diệt. Nếu không được tổ chức bảo  tồn  bằng  cách  nhân  nuôi  khoa  học và tổ chức khai thác hợp lý,  chắc chắn sẽ bị tuyệt chủng.

   (9) Sâu  Chít,  sâu  Tre  là  những  loài  đặc  hữu  cho  vùng  núi  Tây  Bắc; kiến Gai đen, ong Đất, ong  Khoái là những loài đặc hữu cho  vùng núi phía Bắc; các loài bướm  Phượng  như  Troides  helena,  Troides  aeacus   và  Teinopalpus  aureus ...  cũng  là  những  loài  đặc  hữu  cho  một  vài  nơi  núi  cao. Thậm chí ngay một số loài  gây hại như sâu Đuông hại Dừa  ( Rhynchophorus ferrugineus ), bọ  Dừa nhỏ ( Diocalandrafrumenti )...  chỉ phát triển ở miền Nam cũng  có  thể  đưa  vào  danh  sách  các  loài cần bảo tồn và khai thác. Tất  nhiên có nhiều loài có tên trong  Sách đỏ Việt Nam hay Công ước  quốc  tế  về  buôn  bán  các  loại  động,  thực  vật  hoang  dã  nguy  cấp  (CITES)  vẫn  đang  bị  người  dân  “vô  tư”  khai  thác.  Bởi  họ  không được ai phổ biến và giúp  đỡ  phương  pháp  nhân  nuôi  để  khai thác hợp lý, bền vững.

   (10) Có thể nói, cho đến nay lĩnh  vực  bảo  tồn  và  khai  thác  tài  nguyên  côn  trùng  chưa  được  quan tâm đúng mức so với giá trị  của nó trong tự nhiên và với con  người.  Do  vậy,  để  côn  trùng  có  thể “phục vụ” con người tốt hơn  như khả năng vốn có, chúng tôi  xin nêu một vài gợi ý sau:

      Một  là,   kinh  nghiệm  ở  nhiều  nước  cho  thấy,  khai  thác  tài  nguyên  sinh  vật  nói  chung,  tài  nguyên côn trùng nói riêng một  cách khoa học là con đường bảo  tồn  tích  cực  và  bền  vững.  Do  vậy, Cục Bảo tồn thiên nhiên và  Đa dạng sinh học thuộc Bộ Tài  nguyên và Môi trường cũng như  các cơ quan quản lý khoa học có  liên quan ở nước ta nên có những  buổi trao đổi khoa học (seminar)  hay tổ chức các đề tài nghiên cứu  về lĩnh vực “bảo tồn, khai thác tài  nguyên côn trùng”.

    Hai  là,   nên  lồng  ghép  vào  chương  trình  khởi  nghiệp  hoặc  khuyến khích doanh nghiệp đầu  tư tổ chức liên kết giữa nhà khoa  học, nhà nông (đặc biệt đồng bào  vùng núi) trong việc bảo tồn và  khai thác tài nguyên côn trùng...  Bởi với các kết quả nghiên cứu  như của Phan Anh Tuấn (2006),  Hoàng Thị Hồng Nghiệp (2015),  Bùi Thanh Vân (2018)... nêu trên  để có thể khai thác hiệu quả và  tạo ra những sản phẩm có giá trị  thì cái thiếu chính là vốn đầu tư  và tổ chức chuỗi sản phẩm. Nhà  khoa  học  chỉ  có  chuyên  môn,  nhà  nông  có  cơ  sở  vật  chất  để  phát triển bảo tồn và khai thác tài  nguyên côn trùng nên cần phải  có  “nhà  thứ  3,  thứ  4...”  có  điều  kiện tổ chức gắn kết họ lại để trở  thành lực lượng bảo tồn và khai  thác  tài  nguyên  côn  trùng  khoa  học, có hiệu quả và bền vững.  

   Ba là,  tài nguyên côn trùng chủ  yếu tập trung ở miền núi và vùng  nông nghiệp, đặc biệt ở các vườn  quốc  gia  và  khu  bảo  tồn  thiên  nhiên. Do vậy, nên đưa vào các  chương trình phát triển kinh tế -  xã hội miền núi hoặc nông thôn  nội  dung  “Bảo tồn và khai thác  tài  nguyên  côn  trùng”  cụ  thể  ở  các địa phương, giúp người quản  lý và người dân biết làm giàu từ  tài nguyên thiên nhiên một cách  khoa học và  bền vững.

(Nguồn: “Nghiên cứu bảo tồn và khai thác tài nguyên côn trùng ở Việt Nam: tại sao không?”, Bùi Công Hiểu, Trịnh Văn Hạnh, Tạp chí Khoa học & Công nghệ Việt Nam, số 10, năm 2019)

Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:

Tái chế rác thải thành vật liệu hữu dụng

    (1) Sáng 9/6/2019, tại khu vực  tượng đài Lý Thái Tổ (Hà  Nội),  Bộ  Tài  nguyên  và  Môi  trường  phối  hợp  với  UBND  TP  Hà  Nội  và  Trung  ương  Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí  Minh  đã  tổ  chức  Lễ  ra  quân  toàn  quốc Phong trào chống rác thải nhựa. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc  đã tham dự Lễ ra quân và phát biểu  ý kiến. Thủ tướng nhấn mạnh rằng,  cùng chung nỗ lực

của các nước trên  thế giới, Việt Nam đã tích cực đề xuất  các  sáng  kiến  và  tham  gia  các  cơ  chế hợp tác toàn cầu, khu vực để giải  quyết vấn đề rác thải nhựa, nhất là  trong bối cảnh tác động của rác thải  nhựa  ngày  càng  gia  tăng  cùng  với  quá trình phát triển kinh tế - xã hội  đất nước ta.  

    (2) Thủ tướng chỉ đạo Bộ Tài nguyên  và Môi trường cùng với các bộ, ngành  liên quan tiếp tục rà soát hoàn thiện  các quy định, các chính sách để hạn  chế việc sử dụng đồ nhựa dùng một  lần; khuyến khích, hỗ trợ phát triển,  sử  dụng  các  sản  phẩm  thay  thế  thân thiện môi trường, phân loại rác  tại nguồn, thu hút đầu tư, ứng dụng  công nghệ tiên tiến tái sử dụng, tái  chế rác thải và rác thải nhựa. Tăng  cường đầu tư nghiên cứu, ứng dụng  công nghệ mới, hiện đại trong xử lý,  tái chế rác thải nhựa và phát triển các  vật liệu thay thế.  

    (3) Tiếp  theo  thông  tin  về  Lễ  phát  động  Phong  trào  chống  rác  thải  nhựa  ngày  9/6/2019,  trong  bài  báo phóng viên Khánh Huy cho biết:  tại Việt Nam nếu trung bình khoảng  10% chất thải nhựa, trong đó có túi  ni-lông dùng một lần, không được tái  chế sử dụng thì mỗi năm phát sinh  2,5 triệu tấn rác thải nhựa. Đáng lo  ngại, theo các kết quả nghiên cứu,  Việt Nam đứng thứ tư trên thế giới về  lượng rác thải nhựa thải ra biển, với  khoảng từ 0,28 đến 0,73 triệu tấn mỗi  năm, tương đương 6% tổng lượng rác  thải  nhựa  xả  ra  biển  của  thế  giới.  Phóng viên Khánh Huy còn cho biết,  theo Phó Tổng cục trưởng Tổng cục  Biển  và  Hải  đảo  Việt  Nam  Hoàng  Văn Thức thì thời gian qua Việt Nam  đã  ban  hành  nhiều  chính  sách  liên  quan trực tiếp đến việc quản lý chất  thải  nhựa  và  túi  ni-lông.  Thủ  tướng  Chính phủ đã phê duyệt Đề án tăng  cường kiểm soát ô nhiễm môi trường  do sử dụng túi ni-lông khó phân hủy  đến năm 2020, phê duyệt chiến lược  quốc  gia  về  quản  lý  tổng  hợp  chất  thải rắn đến năm 2025, tầm nhìn đến  năm 2050.  

    (4) Chỉ một ngày sau, trong bài báo  có tiêu đề  ‘‘Cần công nghệ xử lý mới  thay việc chôn lấp rác’’, các tác  giả Hoa Lê và Hoàn Vinh đã thông  báo ý kiến đề xuất hướng giải quyết  vấn  nạn  rác  thải,  trong  đó  có  rác  thải nhựa của lãnh đạo TP Đà Nẵng.  Các tác giả bài báo cho biết, ngày  6/7/2019 ông Đặng Việt Dũng, Phó  Chủ  tịch  UBND  TP  Đà  Nẵng  cùng  lãnh đạo các sở, ngành của TP và  quận Liên Chiểu đã có buổi đối thoại  với  nhân  dân  sinh  sống  gần  khu  vực  bãi  rác  Khánh  Sơn,  quận  Liên  Chiểu. Đây là bãi rác lớn nhất TP Đà  Nẵng  với  lượng  rác  thải  1.000  tấn/ ngày. Tại buổi đối thoại, ông Tô Văn  Hùng (Giám đốc Sở Tài nguyên và  Môi trường TP Đà Nẵng) đã trình bày  phương án xây dựng Khu liên hợp xử  lý rác thải bằng công nghệ đốt rác  phát điện tại bãi rác Khánh Sơn với  công suất 650 tấn/ngày đêm. Ông Tô  Văn Hùng cho rằng, việc xây dựng  một khu liên hợp xử lý chất thải rắn  với công nghệ tiên tiến sẽ giải quyết  được  bài  toán  ô  nhiễm  ở  bãi  rác,  đồng thời xử lý toàn bộ số rác hiện có  ở Khánh Sơn.

    (5) Mới đây, trong bài báo, tác giả  đã thông báo tin tức về tình hình tổ  chức hoạt động xử lý rác thải tại Thủ  đô Hà Nội như sau:  Ông  Nguyễn  Hữu  Tiến,  Tổng  Giám đốc Công ty Môi trường đô thị  Hà Nội - đơn vị được giao quản lý,  vận hành 2 bãi rác lớn nhất của TP  hiện  nay  là  Nam  Sơn  (huyện  Sóc  Sơn) và Xuân Sơn (thị xã Sơn Tây và  huyện Ba Vì) cho biết: mỗi ngày bãi  rác Nam Sơn tiếp nhận 4.500-4.700/ tấn, bãi rác Xuân Sơn khoảng 1.200  tấn. Với lượng rác này, đến hết năm  2020  cả  hai  bãi  sẽ  không  còn  khả  năng tiếp nhận thêm. Và đây sẽ là  sức ép rất lớn nếu không sớm thúc  đẩy các dự án xử lý tiên tiến trên địa  bàn TP.  

    (6) Sở Tài nguyên và Môi trường Hà  Nội cho rằng, hiện nay hầu hết các  bãi  rác  của  TP  đều  sử  dụng  biện  pháp chôn lấp và có tới 85-90% các  bãi chôn lấp không hợp vệ sinh, có  nguy  cơ  gây  ô  nhiễm  môi  trường  (không khí, nước, đất), nhiều bãi rác  trong tình trạng quá tải. Đặc biệt, kết  quả quan trắc môi trường không khí  xung quanh các bãi rác cho thấy có  xu  hướng  gia  tăng  vượt  quy  chuẩn  cho phép từ 1,2 đến 1,5 lần. Tại các  bãi rác chôn lấp, nước rỉ rác có chứa  hàm lượng chất ô nhiễm cao gây ô  nhiễm nước mặt và nước ngầm.  

    (7) Xác định việc đẩy nhanh tiến độ  đầu tư xây dựng các nhà máy xử lý  rác thải là nhiệm vụ cấp bách, từ đầu  năm 2019 đến nay, UBND TP Hà Nội  đã chỉ đạo các sở, ngành, các đơn vị  liên quan tập trung triển khai quyết  liệt, đồng thời giao nhiệm vụ cụ thể  để hỗ trợ các nhà đầu tư hoàn thành  các thủ tục liên quan theo đúng tiêu  chí đầu tư.  

    (8) Theo lãnh đạo Sở Xây dựng Hà  Nội,  trong  thông  báo  kêu  gọi  đầu  tư, TP nêu rõ 5 tiêu chí sơ tuyển lựa  chọn nhà đầu tư gồm: có năng lực về  tài chính và kinh nghiệm xử lý rác; có  hồ sơ thiết kế công nghệ đốt rác phát  điện  tiên  tiến,  hiệu  quả;  đã  nghiên  cứu kỹ tính chất rác thải ở Hà Nội;  đáp ứng được về giá xử lý rác và giá  phát điện theo quy định; có nhà máy  được xây dựng ở Việt Nam hay trên  thế giới đạt hiệu quả. Ngoài ra còn  có các tiêu chí phụ như công nghệ  phải tiên tiến, thông minh, tiết kiệm;  cam kết sớm khởi công, hoàn thành  nhanh; ưu tiên đơn vị sử dụng hiệu  quả thiết bị sản xuất trong nước; tạo  điều  kiện  có  việc  làm  ổn  định  cho  người dân ở khu vực dự án; sử dụng  ít đất; công suất phát điện tốt nhất và  hiệu suất đốt rác cao nhất.  

    (9) Tuy nhiên, qua tìm hiểu của phóng  viên,  các  dự  án  đều  triển  khai  khá  chậm dù cả 5 dự án được TP chấp  nhận chủ trương đầu tư. Hiện nay 2  dự án tại khu xử lý chất thải Đồng Ké  (huyện Chương Mỹ) xử lý 1.500 tấn  rác thải/ngày đêm và dự án tại khu  xử lý chất thải Phù Đổng (huyện Gia  lâm)  xử  lý  1.200  tấn  rác  thải/ngày  đêm mới đang thực hiện các bước lập  hồ sơ mời thầu, lựa chọn nhà đầu tư.  Còn 3 dự án khác thì đều tiến hành  chậm so với yêu cầu do lãnh đạo TP  đặt ra.  

    (10) Cũng theo Sở Xây dựng Hà Nội,  dự  án  Nhà  máy  Điện  rác  Sóc  Sơn  với  công  suất  4.000  tấn  rác  thải/ ngày đêm, đặt tại khu liên hiệp xử lý  chất thải rắn Nam Sơn (chủ đầu tư là  Công ty CP Môi trường năng lượng  Thiên Ý) có khả năng đưa vào hoạt  động sớm hơn cả. Dự án này áp dụng  công nghệ đốt rác bằng lò ghi cơ học,  thu hồi năng lượng để phát điện công  suất 75 MW. Đến nay UBND TP Hà  Nội đã phê duyệt quy hoạch chi tiết  tỷ  lệ  1/500  điều  chỉnh  cục  bộ  Quy  hoạch chi tiết Khu liên hiệp xử lý chất  thải Sóc Sơn giai đoạn II và tổng mặt  bằng  Nhà  máy  Điện  rác  Sóc  Sơn.  Nhà máy này còn thủ tục cuối cùng là  giấy phép đầu tư xây dựng (chủ đầu  tư đã nộp hồ sơ xin cấp giấy phép từ  đầu tháng 7/2019, đang chờ Bộ Xây  dựng phê duyệt). Sau khi được cấp  giấy phép, theo tiến độ cam kết đến  cuối năm 2020 dự án sẽ tiếp nhận  đốt thử.  

    (11) Dự án Khu xử lý chất thải Xuân  Sơn đang được triển khai nhưng tiến  độ  chậm.  Dự  án  này  có  công  suất  1.000 tấn/ngày đêm, áp dụng công  nghệ đốt rác phát điện với công suất  15,5 MW, chủ đầu tư là liên doanh  Công ty CP Tập đoàn T&T và Hitachi  Zosen Corporation (Nhật Bản) đang  hoàn thành các thủ tục chấp thuận  bổ sung quy hoạch phát triển điện.  Ngoài ra còn có dự án Khí hóa rác  thải sinh hoạt thành điện năng (công  suất 500 tấn rác thải/ngày đêm, xử lý  bằng phương pháp khí hóa để phát  điện,  chủ  đầu  tư  là  Công  ty  TNHH  Indovin  Power)  cũng  đang  làm  các  thủ tục nhưng chưa có kết quả.

    (12) Với những thông tin rõ ràng được  phản ánh trong 5 bài báo nêu trên  của báo Nhân dân và báo Lao động,  có thể vui mừng tin tưởng rằng, chỉ  sau khoảng 2 năm nữa thì phần lớn  rác thải tại TP Hà Nội và TP Đà Nẵng  sẽ được xử lý bằng phương pháp đốt  rác phát điện, nguy cơ rác thải gây ô  nhiễm môi trường tại 2 TP lớn này về  cơ bản sẽ không còn nữa. Khi đó lại  xuất hiện một vấn đề mới mà các cơ  quan nghiên cứu KH&CN nước ta, đi  tiên phong là Viện Hàn lâm KH&CN  Việt Nam, phải giải quyết nốt. Đó là  việc tái chế toàn bộ lượng tro đốt rác  thải  của  các  nhà  máy  đốt  rác  phát  điện thành một loại vật liệu xây dựng  hữu  dụng  gọi  là  vật  liệu  cao  phân  tử  khoáng  (geopolymer).  Hiện  nay  Hội  đồng  khoa  học  ngành  KH&CN  vật  liệu  của  Viện  Hàn  lâm  KH&CN  Việt  Nam  đang  khuyến  khích  các  nhà khoa học trong Viện đẩy mạnh  nghiên  cứu  công  nghệ  vật  liệu  cao  phân tử khoáng

(Nguồn: “Tái chế rác thải thành vật liệu hữu dụng”, Nguyễn Văn Hiệu, Tạp chí Khoa học & Công nghệ Việt Nam, số 11, năm 2019)

Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:

Cách mạng trong thám hiểm vũ trụ bằng lực đẩy ánh sáng

    (1) Ánh  sáng  là  khởi  nguồn  của  vũ  trụ. Những tia sáng đầu tiên rọi chiếu  vũ trụ bắt đầu cách đây khoảng 13,7  tỷ năm. Ánh sáng mang đến cho vũ  trụ mọi thứ và kiến tạo nên sự sống  trên các hành tinh. Đó là nguồn năng  lượng vô tận. Cũng giống như hàng  trăm tỷ ngôi sao khác trong dải Ngân  hà, Mặt trời mang nguồn năng lượng  vô giá cho Trái đất. Ánh sáng mặt trời  cho phép một Trái đất phì nhiêu sức  sống, từ những loài vi khuẩn vô cùng  nhỏ bé đến những cơ thể sống khổng  lồ, từ đại dương bao la đến núi rừng  xanh ngát. Loài người biến ánh sáng  mặt trời thành nguồn năng lượng dồi  dào cho cuộc sống. Đó là một nguồn  năng  lượng  sạch  và  không  thể  cạn  kiệt cho ít nhất 5 tỷ năm nữa.

  (2) Với các nhà khoa học vũ trụ, ánh  sáng  mặt  trời  giúp  “nuôi  sống”  các  cỗ máy khoa học tối tân, những phi  thuyền đang lao vút trong không gian  và những xe tự hành đang lăn bánh  trên bề mặt các hành tinh. Nhưng xa  hơn thế, họ đang nung nấu một giấc  mơ ấp ủ suốt nửa thế kỷ. Đó là biến  ánh sáng mặt trời thành những cơn  gió giúp các phi thuyền “căng buồm”  vào  không  gian  liên  hành  tinh  và  xa hơn nữa là liên sao. Giấc mơ đó  không phải là không có cơ sở.  

    (3) Cách đây hơn một thế kỷ, Albert  Einstein  đã  phát  triển  thuyết  lượng  tử ánh sáng lên một nấc thang mới.  Mô hình về photon ánh sáng mà nhà  khoa học thiên tài này đưa ra nhằm  giải thích những quan sát thực nghiệm  mà  không  thể  giải  thích  thỏa  đáng  bởi   mô hình sóng  cổ điển. Bản chất  lưỡng tính sóng - hạt của ánh sáng đã  tháo những nút thắt cơ bản trong vật  lý đương đại. Bên cạnh tính chất sóng  thì ánh sáng cư xử như những hạt gọi  là những lượng tử ánh sáng - photon.  Einstein  chỉ  ra  rằng,  lượng  tử  năng  lượng photon cũng phải mang  động  lượng, do vậy chúng có đầy đủ tính  chất của một  hạt. Thời gian sau đó,  động lượng của photon đã được quan  sát bằng thực nghiệm  bởi   nhà vật lý  Arthur  Compton.  Năm  1927,  chính  thí nghiệm này đã giúp ông được trao  giải Nobel trong lĩnh vực Vật lý.  

    (4) Đó chính là mấu chốt của vấn đề  giúp  các  nhà  khoa  học  mơ  về  một  tương lai thế hệ tàu vũ trụ di chuyển  nhờ áp lực của ánh sáng. Theo đó,  các  photon  ánh  sáng  của  Mặt  trời  cũng như những ngôi sao mang động  lượng, khi gặp vật cản phản xạ, chúng  chuyển động lượng theo hướng ngược  lại với ánh sáng dội lại. Động lượng  của nó sẽ tạo thành một lực đẩy. Mặc  dù rất nhỏ nhưng với tiết diện phản  xạ lớn, khối lượng tàu vũ trụ nhỏ và  trong môi trường chân không thì lực  đẩy này sẽ trở nên đáng kể, giúp phi  thuyền di chuyển trong không gian.  Điều  này  giống  như  việc  chúng  ta  ném những quả bóng tenis vào một  tấm  phản  gắn  dựng  đứng  trên  một  chiếc  thuyền  nhỏ.  Khi  ném  liên  tục  những quả bóng sẽ tác động lực lên  tấm phản làm cho thuyền di chuyển  trên mặt nước. Trong trường hợp này,  các  photon  được  ví  như  những  quả  bóng tennis. Đối với những con tàu  vũ  trụ  thì  những  tấm  khiên  nhẹ  với  tiết  diện  phản  xạ  như  những  cánh  buồm no gió. Như vậy, chúng ta sẽ có  một phi thuyền vũ trụ hoạt động mà  không cần động cơ, nhiên liệu. Vào  năm 1976, nhà thiên văn học huyền  thoại Carl Sagan trong chương trình  Tonight Show với Johnny Carson đã  đề cập đến một phương pháp đẩy cho  các phi thuyền không gian mới gọi là  cánh buồm mặt trời.  

    (5) Đã  4  thập  kỷ  trôi  qua,  những  điều tưởng như chỉ là trong giấc mơ  đã dần thành hiện thực. Đó là điều  tuyệt vời nhất mà các nhà khoa học  vũ trụ có được trong kỷ nguyên chinh  phục không gian. Tháng 8/2008, Cơ  quan Hàng không vũ trụ Mỹ (NASA)  cũng đã công bố một “chiếc thuyền  buồm”  vũ  trụ  hình  khối  nhỏ  có  tên  Nanosail-D.  NanoSail-D  là  một  vệ  tinh nhỏ (CubeSat) được Trung tâm  Nghiên cứu Ames của NASA sử dụng  để  nghiên  cứu  triển  khai  một  cánh  buồm mặt trời trong không gian. Đó  là một CubeSat 3 đơn vị (3U) có kích  thước 30 x 10 x 10 cm, với khối lượng  4  kg.  Vệ  tinh  đã  bị  mất  ngay  sau  khi phóng do sự cố tên lửa Falcon 1  mang nó. Sau đó, NASA đã thay thế  một sứ mệnh mới với NanoSail-D2 đã  được triển khai thành công vào đầu  năm 2011.

    (6) Tháng  6/2010,  Cơ  quan  Hàng  không  vũ  trụ  Nhật  Bản  (JAXA)  đã  phóng  thành  công  “du  thuyền  mặt  trời”  Ikaros  vào  không  gian.  Dự  án  đầy  tham  vọng  này  đã  chứng  minh  rằng, một màng mỏng gắn vào thân  tàu vũ trụ có thể đẩy phương tiện về  phía trước bằng cách thu thập động  lượng từ lực đẩy của các hạt ánh sáng  của Mặt trời. Tuy nhiên, có một dự án  tham  vọng  hơn  được  các  nhà  khoa  học có cùng ước mơ “cánh buồm mặt  trời”  âm  thầm  thực  hiện.  Vào  năm  2005, Hội Khoa học hành tinh đã nỗ  lực gửi một vệ tinh cánh buồm mặt  trời  mang  tên  Cosmos  1  lên  vũ  trụ  trong một chương trình hợp tác Nga  - Mỹ. Tuy nhiên, kết quả đã trở thành  công cốc khi tên lửa đẩy Volna mang  theo  vệ  tinh  đã  tắt  chỉ  83  giây  sau  khi phóng từ một tàu ngầm của Nga  trên biển Barents. Tên lửa bị tắt ngay  trong giai đoạn khởi động tầng đầu  tiên và đã không đạt được quỹ đạo.  Năm 2009, Hội Khoa học hành tinh  lại tiếp  tục làm một cánh buồm mặt  trời thử nghiệm với CubeSat dựa trên  dự án NanoSail-D của NASA  Ikaros và “cánh buồm” của nó.

    (7) Năm  2011, dự án đầy tham vọng  mang  tên  LightSail  đã  ra  đời  để  chứng minh việc chèo thuyền mặt trời  có kiểm soát trong quỹ đạo Trái đất  thấp bằng cách sử dụng CubeSat. Dự  án LightSail được phát triển bởi Hội  Khoa học hành tinh bao gồm 2 tàu vũ  trụ LightSail 1 và LightSail 2. Cả hai  tàu vũ trụ LightSail có kích thước 10  ×  10  ×  30 cm. Sau khi triển khai, diện  tích của buồm là 32 m 2 .  

    (8) Ngày 20/5/2015, LightSail 1 (còn  được gọi là LightSail-A) đã được công  bố. Tháng 6/2015, ngay sau khi được  phóng, LightSail 1 đã triển khai cánh  buồm mặt trời và quay trở lại bầu khí  quyển.  LightSail  1  thực  chất  là  một  nhiệm  vụ  trình  diễn  kỹ  thuật  được  thiết kế để thử nghiệm phương pháp  triển khai cánh buồm mới trong không  gian,  nó  không  thực  hiện  nhiệm  vụ  “chèo thuyền mặt trời”.

    (9) Từ  kinh  nghiệm  cũng  như  kiến  thức đúc rút sau sứ mệnh LightSail  1, tháng 3/2016, Hội Khoa học hành  tinh tiếp tục công bố tàu vũ trụ thứ hai  mang tên LightSail 2. Đây là dự án  đầy ắp đam mê của các nhà khoa học  nhằm chứng minh rằng, chèo thuyền  mặt trời là một kỹ thuật đẩy khả thi  cho tàu vũ trụ. LightSail 2 là một tàu  vũ  trụ  với  đầy  đủ  chức  năng  nhằm  trình diễn khả năng chèo thuyền mặt  trời thực sự.  LightSail 2 trong phòng kiểm tra kỹ thuật.

    (10) Thời  khắc  lịch  sử  cũng  đã  đến.  Ngày  23/7/2019,  LightSail  2  được  phóng  thành  công.  Tên  lửa  Falcon  Heavy  của  Tập  đoàn  công  nghệ  thám  hiểm  không  gian  SpaceX  đã  đưa tàu Prox-1 mang theo LightSail  2 lên không gian. Sau đó, LightSail  2 tách khỏi Prox-1 và bay theo quỹ  đạo quanh Trái đất. Như vậy, sau hơn  10  năm  nỗ  lực  nghiên  cứu  với  kinh  phí 7 triệu USD, phi thuyền loại nhỏ  LightSail 2 đã trở thành tàu vũ trụ đầu  tiên bay lên quỹ đạo chỉ nhờ vào sức  mạnh của ánh sáng mặt trời. Tên lửa đẩy Falcon của SpaceX đưa LightSail 2  lên không gian.

    (11) Một con tàu vũ trụ cỡ nhỏ LightSail  2 có kích thước bằng một ổ bánh mì  cuối cùng đã tự biến thành một cánh  buồm mặt trời. LightSail 2 đã lên quỹ  đạo được hơn một tháng và lần đầu  tiên trong lịch sử nó đã mở cánh buồm  rộng 32 m 2 , được chế tạo bằng Mylar  NanoSail-D  - một loại polyester nhẹ và mỏng như  tơ nhện, giúp nó có thể tận dụng tốt  động lượng của photon. Khoảng một  tuần tiếp đó, tàu vũ trụ đã tăng quỹ  đạo lên 1,7 km, và lực đẩy có được  nhờ  các  photon  của  ánh  sáng  mặt  trời. Những photon từ ánh sáng mặt  trời phản xạ lên bề mặt cánh buồm  vào tạo ra lực đẩy giúp LightSail 2 di  chuyển.

    (12) Thực tế, LightSail 2 đã thành công  trong việc sử dụng nguyên lý lực đẩy  photon. LightSail 2 có sự đột phát về  công nghệ trong việc kiểm soát lực  đẩy  để  thay  đổi  quỹ  đạo  một  cách  hiệu quả. Theo giám đốc dự án Dave  Spencer, LightSail 2 được kiểm soát  tự  động  bằng  các  thuật  toán.  Bằng  cách xoay tàu vũ trụ 90 o  cứ sau 50  phút, phần mềm này có thể thay đổi  hướng của tàu để nó nhận đủ năng  lượng từ Mặt trời cho dù ở bất cứ vị  trí  nào  trong  không  gian.  Trước  đó  Ikaros chỉ có thể xoay được khoảng  4-5 o .

    (13) Thuật  toán  ấn  tượng  này  vẫn  đang  được  cập  nhật  và  điều  chỉnh.  Một trong những thách thức lớn nhất  là tinh chỉnh động lượng của tàu vũ  trụ được điều khiển bởi một bánh xe  quay. Bánh xe động lượng này được  sử dụng để thay đổi hướng của tàu.  Khi  cánh  buồm  mặt  trời  tạo  ra  quá  nhiều  lực  đẩy,  cần  có  một  lực  đối  kháng lại để làm chậm tốc độ quay.  Điều này được thực hiện bằng cách  sử dụng các thanh mô men xoắn điện  từ, định hướng tàu vũ trụ sử dụng từ  trường của Trái đất.  

    (14) Các  nhà  khoa  học  hiện  khó  dự  đoán chính xác tàu vũ trụ sẽ có thể  nâng quỹ đạo bao nhiêu nữa. Theo  dự đoán, khi lực đẩy mặt trời cộng lại,  nó sẽ giúp tăng quỹ đạo của tàu lên  khoảng 0,5 km mỗi ngày. Đây không  phải là mục tiêu quá xa vời, trên thực  tế, tàu vũ trụ đã tăng thêm khoảng  900 m chỉ trong một ngày.

    (15) Những gì mà các sứ mệnh không  gian trên làm được là minh chứng rõ  ràng nhất trong việc sử dụng lực đẩy  ánh sáng cho các sứ mệnh du hành  vũ trụ tương lai. Tất cả không chỉ là  giấc mơ mà đang hiện hữu và hiện  thực hóa trong niềm đam mê không  dứt và sự tiến bộ không ngừng của  các  đột  phá  về  khoa  học  và  công  nghệ vũ trụ.

    (16) Việc phát triển tàu vũ trụ sử dụng  lực  đẩy  ánh  sáng  hứa  hẹn  mở  ra  những tiềm năng vô cùng lớn trong  nghiên  cứu  và  thám  hiểm  vũ  trụ.  Điều dễ dàng nhận thấy là ứng dụng  trong  việc  tìm  kiếm  sự  sống  ngoài  hành tinh, theo dõi thời tiết trên Mặt  trời, triển khai hệ thống cảnh báo tiểu  hành  tinh  gần  Trái  đất,  thậm  chí  là  những sứ mệnh thám hiểm không chỉ  giới hạn trong phạm vi hệ Mặt trời mà  còn vươn tới không gian liên sao.

    (17) Các  nhà  nghiên  cứu  tin  rằng,  những con tàu tương lai được chế tạo  và bảo vệ bởi những vật liệu có khả  năng chịu được nhiệt độ và bức xạ  cao. Tàu vũ trụ như vậy có thể tiếp  cận rất gần Mặt trời, sau đó chúng sẽ  nhận được một lực đẩy lớn để tạo đà  cho nó di chuyển xa hơn và với tốc  độ cao hơn nhiều vào không gian sâu  thẳm.

    (18) Tàu vũ trụ tiểu hành tinh gần Trái  đất (NEA Scout ) của NASA dự kiến  sẽ được phóng vào giữa năm 2020,  là ứng dụng sớm nhất cho công nghệ  lực đẩy ánh sáng này. Những nhiệm  vụ táo bạo có kế hoạch sử dụng cánh  buồm mặt trời là những vệ tinh nhỏ  CubeSat loại 6U, hoặc tàu vũ trụ có  kích  thước  nhỏ  để  thu  thập  dữ  liệu  về các tiểu hành tinh gần Trái đất có  tiềm năng cho các nhiệm vụ nghiên  cứu không gian của con người trong  tương lai.

    (19) Trong tương lai, thế hệ tàu vũ trụ  nhỏ mang cánh buồm mặt trời sẽ trở  thành  một  hướng  đi  đầy  tiềm  năng  trong  việc  thực  hiện  các  nhiệm  vụ  thám  hiểm  ngoài  hệ  Mặt  trời.  Các  cánh buồm vừa có chức năng tạo lực  đẩy, vừa đóng vai trò như các tấm  pin  mặt trời  sẽ cung cấp năng lượng cho  các chức năng khác của vệ tinh như  chụp  ảnh  và  liên  lạc  với  mặt  đất...  Khi quay quanh Trái đất, tàu vũ trụ sẽ tăng độ cao nhờ áp lực của bức  xạ mặt trời trên cánh buồm. Các tàu  vũ trụ CubeSate với kích thước nhỏ  gọn, vừa giúp giảm chi phí, vừa linh  động trong nghiên cứu, đồng thời phù  hợp  với  nguyên  lý  sử  dụng  lực  đẩy  ánh sáng nhờ buồm sẽ tạo nên cuộc  cách mạng vô tiền khoáng hậu trong  nghiên cứu không gian

(Nguồn: “Cách mạng trong thám hiểm vũ trụ bằng lực đẩy ánh sáng”, Nguyễn Đức Phường, Tạp chí Khoa học & Công nghệ Việt Nam, số 11, năm 2019)

Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:

Sản xuất nhiên liệu từ quang hợp nhân tạo

    (1) Nhân loại đang phải đối mặt với  vấn đề khủng hoảng năng lượng:  nhiên  liệu  hóa  thạch  đang  dần  cạn kiệt, những túi dầu trong lòng  đất đang vơi đi một cách không  kiểm soát, phát triển năng lượng  hạt nhân gặp phải những vấn đề  về  nguy  cơ  mất  an  toàn...  Cùng  với đó là phát thải khí nhà kính gia  tăng ở mức báo động, trở thành  mối  nguy  hại  lớn  và  hiểm  họa  khôn lường (gây ra hiện tượng ấm  lên  toàn  cầu,  khí  hậu  diễn  biến  không theo quy luật, những hiện  tượng thời tiết cực đoan gia tăng  mạnh mẽ...). An ninh năng lượng  và phát triển bền vững đang đặt  ra  thách  thức  chưa  từng  có  đối  với loài người. Những hệ lụy là vô  cùng lớn, quyết định sự tồn vong  của Trái đất.

    (2) Từ năm 1970, thế giới đã chứng  kiến    sự tăng trưởng nhanh chóng  về nhu cầu năng lượng, trong đó  nguồn cung cấp chủ yếu là nhiên  liệu hóa thạch và sản xuất điện  tập  trung.  Nhưng  dự  kiến  bức  tranh về năng lượng tương lai  sẽ  rất khác. Hiện tại, cuộc chiến  về sản lượng trên thị trường dầu  mỏ  ở  Trung  Đông  đã  đẩy  giá  năng lượng đè nặng lên vai người  dân. Những ông lớn trong ngành  năng lượng đang sử dụng nguồn  cung năng lượng như vũ khí trong  cuộc chiến thương mại toàn cầu  khi sự phụ thuộc của các quốc gia  vào  dầu  mỏ,  khí  đốt  ngày  càng  trở nên bức thiết hơn bao giờ hết.  Nga, Mỹ, EU và những quốc gia  khác đang cố gắng tối đa sức ảnh  hưởng và tác động chính trị của  mình lên cán cân năng lượng toàn  cầu. Chính vì vậy, Ủy ban châu Âu  (EC) đã thúc đẩy sự hình thành  một  Liên  minh  năng  lượng  cho  sự phối hợp các chính sách năng  lượng bao gồm cả việc tiết kiệm  năng lượng và giảm khí thải CO 2 cho đến việc đa dạng hóa nguồn  cung an ninh năng lượng.

    (3) Cùng  với  cuộc  chiến  năng  lượng,  một  vấn  đề  khác  đe  dọa  trực tiếp mối an nguy và phát triển  bền vững của nhân loại chính là  việc phát thải khí nhà kính đang  ngày  càng  gia  tăng  -  là  nguyên  nhân  chủ  yếu  của  hiện  tượng  ấm  lên  toàn  cầu.  Việc  sử  dụng  nhiên liệu hóa thạch đồng nghĩa  với việc tăng cường phát thải khí  nhà kính. Hiện tốc độ giải phóng  CO 2  tiếp tục tăng nhanh do các  hoạt động công nghiệp của con  người  và  cả  do  những  nguyên  nhân  của  ấm  lên  toàn  cầu  như  băng tan, khí nhà kính giải phóng  từ lòng đất... Một nghiên cứu của  Viện Hải dương học NOAA (Mỹ)  đã cho thấy, CO 2  trong khí quyển  tiếp  tục  tăng  nhanh  vào  năm  2019  với  mức  trung  bình  trong  tháng 5 đạt đỉnh 414,7 ppm, đây  là chỉ số cao nhất theo mùa được  ghi nhận trong 61 năm quan sát  trên đỉnh núi lửa lớn nhất Hawaii.  Giá  trị  đỉnh  năm  2019  cao  hơn  3,5 ppm so với đỉnh 411,2 ppm  vào tháng 5/2018, đánh dấu bước  nhảy hàng năm cao thứ hai trong  lịch sử.

    (4) Những vấn đề nêu trên đã đặt  ra yêu cầu về chiến lược phát triển  bền vững trong tương lai là phải  đáp  ứng  được  mục  tiêu  lâu  dài  về năng lượng và khí hậu. Xuất  phát từ đó, nhằm biến thách thức  thành cơ hội, các nhà khoa học  khắp thế giới đang nỗ lực nghiên  cứu tạo ra các nguồn năng lượng  sạch và bền vững. Những nguồn  năng  lượng  này  phải  giải  quyết  được bài toán 2 trong 1, tức là vừa  tái  tạo  nguồn  năng  lượng,  vừa  giảm phát thải khí nhà kính. Bởi  vậy, mục tiêu lớn nhất mà các nhà  khoa học đặt ra là biến tài nguyên  CO 2  dư thừa trong khí quyển và  nguồn năng lượng mặt trời vô tận  thành nguồn nhiên liệu phục vụ  các hoạt động của cuộc sống.  

    (5) Chuyển  đổi  quang  hóa  CO 2 thành  nhiên  liệu  được  các  nhà  khoa học kỳ vọng là giải pháp đột  phá để lưu trữ năng lượng mặt trời  dưới dạng các kiên kết hóa học.  Tuy  nhiên,  thách  thức  lớn  nhất  hiện  nay  mà  chúng  ta  chưa  thể  vượt qua đó là hydrocarbon có giá  trị năng lượng cao hiếm khi được  tạo ra theo phương pháp truyền  thống vì những thách thức động  học.  

    (6) Thực  vật  sử  dụng  ánh  sáng  mặt trời để điều khiển các phản  ứng hóa học giữa nước và CO 2 .  Khi những tia nắng mặt trời chạm  vào lá cây sẽ kích thích các điện  tử  (electron)  trong chất diệp lục.  Những  điện  tử  bị  kích  thích  khi  nhận  được  năng  lượng  từ  ánh  sáng  mặt  trời  sẽ  thúc  đẩy  các  phản ứng hóa học biến đổi CO 2  và  nước thành glucose. Nhiều phát  minh mang tính ứng dụng rộng rãi  trong cuộc sống nhờ việc chúng  ta bắt chước tự nhiên. Không nằm  ngoài những phát hiện quan trọng  đó, các nhà khoa học đã học hỏi  chính  những  “người  thầy  thực  vật” để làm một công việc có ích.  Theo  đó,  trong  một  nghiên  cứu  mới công bố trên tạp chí  Nature ,  các nhà khoa học thuộc Đại học  Illinois  tại  Urbana-Champaign  (Mỹ) đã tạo ra bước đột phá trong  việc chuyển đổi CO 2  dư thừa trong  khí quyển thành các nguồn năng  lượng hữu ích cho cuộc sống.  

    (7) Các nhà khoa học của Đại học  Illinois  tại  Urbana-Champaign  (Mỹ)  đã  sử  dụng  các  hạt  nano  vàng  (Au)  để  thay  thế  cho  chất  diệp lục - một sắc tố hoạt động  như một chất xúc tác trong quang  hợp tự nhiên, giúp thúc đẩy phản  ứng hóa học ở thực vật. Có thể  nói,  đây  là  một  bước  tiến  lớn,  hướng tới việc xây dựng một hệ  thống tái chế carbon, trong đó tận  dụng ánh sáng mặt trời để chuyển  đổi hiệu quả CO 2  và nước thành  nhiên liệu lỏng. Bằng cách tối ưu  hóa hệ thống thực hiện phản ứng,  giờ đây họ có thể điều khiển các  phản ứng hóa học hai electron để  tăng tính hiệu quả về mặt năng  lượng.

    (8) Mục tiêu ở đây là sản xuất các  hydrocacbon  phức,  hóa  lỏng  từ  CO 2  dư  thừa  và  các  tài  nguyên  bền vững khác như ánh sáng mặt  trời. Nhiên liệu lỏng là lý tưởng vì  chúng dễ vận chuyển, an toàn và  tiết kiệm hơn so với khí đốt. Hơn  nữa,  chúng  được  tạo  ra  từ  các  phân tử chuỗi dài chứa nhiều liên  kết  hơn,  có  nghĩa  là  chúng  lưu  trữ năng lượng nhiều hơn. Nhóm  nghiên  cứu  của  Đại  học  Illinois  do GS P.K. Jain dẫn đầu đã phát  triển một quy trình nhân tạo, sử  dụng  cùng  một  phần  ánh  sáng  xanh lục của phổ ánh sáng  được  thực vật sử dụng trong quá trình  quang  hợp  tự  nhiên  để  chuyển  CO 2  và nước thành nhiên liệu, với  Sungju Yu (bên phải) và P.K. Jain - các tác giả của công trình. chất xúc tác là các hạt nano vàng  giàu điện tử.  

    (9) Trong  quang  hợp,  thực  vật  chuyển  đổi  năng  lượng  từ  ánh  sáng mặt trời thành glucose bằng  cách sắp xếp lại các phân tử nước  và CO 2 . Quá trình mới bắt chước  khả năng tự nhiên này thông qua  các thao tác hóa học tạo ra nhiên  liệu lỏng mà không cần chất diệp  lục.  Nhưng  thay  vì  dựa  vào  các  sắc tố thực vật có khả năng phân  hủy sinh học để chuyển đổi năng  lượng ánh sáng thành năng lượng  hóa  học,  các  nhà  khoa  học  đã  tìm ra một phương pháp tốt hơn,  đó là phát triển quang hợp nhân  tạo, tạo ra các hydrocacbon năng  lượng  cao  bằng  cách  tận  dụng  các hạt nano vàng giàu electron  có kích thước 13-14 nanomet làm  chất xúc tác. Trong nghiên cứu,  các  nhà  khoa  học  đã  chọn  sử  dụng các chất xúc tác kim loại để  hấp thụ ánh sáng xanh và chuyển  các electron và proton cần thiết  cho các phản ứng hóa học giữa  CO 2  và nước. Các hạt nano vàng  hoạt  động  đặc  biệt  tốt  như  một  chất xúc tác vì bề mặt của chúng  tương tác thuận lợi với các phân  tử CO 2 , tăng hiệu quả hấp thụ ánh  sáng  và  không  bị  phá  vỡ  hoặc  biến chất như các kim loại khác.

    (10) Nghiên  cứu  mới  này  đã  tạo  ra  bước  tiến  xa  hơn  khi  chuyển  CO 2  thành các phân tử nhiên liệu  hydrocarbon phức tạp (bao gồm  propan và metan) được tổng hợp  bằng cách kết hợp ánh sáng xanh  với các hạt nano vàng trong chất  lỏng ion. Ngoài propan và metan,  phương pháp này cũng cho phép  tạo  ra  ethylene,  acetylene  và  propene.  Đây  là  những  nguyên  liệu quan trọng mà một ngày nào  đó cho phép lưu trữ năng lượng  khả thi dùng trong pin nhiên liệu.

    (11) Như  vậy,  bằng  cách  chuyển  đổi CO 2  thành các phân tử phức  tạp hơn như propan, công nghệ  năng lượng xanh hiện đã tiến một  bước gần hơn đến việc sử dụng  CO 2  dư thừa để lưu trữ năng lượng  mặt  trời  dưới  dạng  liên  kết  hóa  học.  Nguồn  năng  lượng  này  có  thể được sử dụng vào những lúc  không có ánh sáng mặt trời hoặc  vào  thời  điểm  nhu  cầu  sử  dụng  năng lượng cao nhất.

    (12) Có thể nói, thành quả nghiên  cứu của các nhà khoa học thuộc  Đại học Illinois đã tạo ra bước đột  phá, mở ra triển vọng mới trong  việc  giải  quyết  bài  toán  khủng  hoảng  năng  lượng  và  an  ninh  môi trường. Tuy nhiên, theo đánh  giá của cộng đồng các nhà khoa  học trong lĩnh vực này thì còn rất  nhiều việc phải làm phía trước để  công nghệ này sẵn sàng được sử  dụng và nhân rộng, đáp ứng nhu  cầu cuộc sống.

(Nguồn: “Sản xuất nhiên liệu từ quang hợp nhân tạo”, Nguyễn Đức Minh, Tạp chí Khoa học & Công nghệ Việt Nam, số 10, năm 2019)

Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:

KH&CN thúc đẩy chăn nuôi bò thịt tại một số tỉnh Trung du, miền núi phía Bắc

      (1) Những  năm  gần  đây,  chương  trình  quốc  gia  về  cải  tạo  đàn  bò  nội bằng các giống bò Zebu như:  Brahman, Sahiwal, Droutmaster...  dần  được  quan  tâm  ở  nhiều  địa  phương trên cả nước, đặc biệt là  các tỉnh đồng bằng và duyên hải  miền  Trung.  Trên  cả  nước,  số  lượng bò lai Zebu tăng từ 25 lên  50-75%, trong đó nhiều tỉnh/thành  phố như Hà Nội, Hưng Yên, Nghệ  An  đạt  70-80%.  Việc  Zebu  hóa  đã giúp nâng tầm vóc đàn bò lên  25-35%, tỷ lệ thịt xẻ cũng tăng 17- 22% so với bò địa phương. Song  chương  trình  chủ  yếu  triển  khai  ở những vùng có điều kiện thuận  lợi như đồng bằng, các vùng ven  đô. Ở các tỉnh Trung du, miền núi  phía Bắc như Phú Thọ, Vĩnh Phúc,  Tuyên Quang, số lượng tổng đàn  thấp  (lần  lượt  khoảng  105.200,  102.950,  21.220  con),  việc  chăn  nuôi bò còn phân tán ở các hộ gia  đình,  chủ  yếu  là  giống  bò  vàng  địa phương (chiếm 80%) có khối  lượng  trưởng  thành  thấp,  sinh  trưởng  chậm,  khối  lượng  trung  bình con đực là 220-250 kg và con  cái từ 160-180 kg, tỷ lệ thịt xẻ chỉ  khoảng 40-42% khối lượng sống.  Từ năm 1995 trở lại đây, mặc dù  các  địa  phương  này  đã  đầu  tư  cho công tác cải tạo đàn bò theo  hướng Zebu hoá nhưng do kinh phí  còn hạn hẹp, đầu tư dàn trải, thiếu  đồng bộ và sự hiểu biết của đồng  bào các dân tộc thiểu số chưa cao  nên kết quả thu được còn hạn chế.  

      (2) Mặc  dù  3  tỉnh  Phú  Thọ,  Vĩnh  Phúc và Tuyên Quang đều thuộc  vùng trung du, miền núi, có điều  kiện  tự  nhiên  phù  hợp  cho  chăn  nuôi gia súc lớn, đặc biệt là trâu,  bò, nhưng việc chăn nuôi bò vẫn  theo tập quán lạc hậu, chăn nuôi  quảng canh, quy mô đàn nhỏ lẻ,  thường chỉ 1-2 con/hộ... nên chưa  thu hút được sự quan tâm của các  doanh nghiệp. Thêm vào đó, việc  dự trữ thức ăn xanh, khô, thô cho  bò vào mùa rét còn hạn chế, do  đó cứ đến mùa đông là hàng trăm  con trâu, bò ở các huyện vùng cao  bị chết đói, rét, gây thiệt hại không  nhỏ về kinh tế - xã hội.

      (3) Nhằm thúc đẩy phát triển nghề  chăn  nuôi  bò  tại  vùng  đồng  bào  dân  tộc  thiểu  số  ở  các  tỉnh  Phú  Thọ,  Vĩnh  Phúc,  Tuyên  Quang,  giúp khai thác hiệu quả tiềm năng  về điều kiện tự nhiên, nguồn lao  động  nhàn  rỗi  ở  địa  phương,  Bộ  KH&CN  đã  phê  duyệt  triển  khai  dự án “Ứng dụng tiến bộ KH&CN  xây  dựng  mô  hình  nuôi  bò  thịt  ở  vùng  đồng  bào  dân  tộc  thiểu  số  tại một số tỉnh Trung du, miền núi  phía Bắc”, thuộc “Chương trình hỗ  trợ ứng dụng, chuyển giao tiến bộ  KH&CN  thúc  đẩy  phát  triển  kinh  tế  -  xã  hội  nông  thôn,  miền  núi,  vùng  dân  tộc  thiểu  số  giai  đoạn  2016-2025”  (Chương  trình  nông  thôn  miền  núi).  Dự  án  do  Viện  Chiến lược và Chính sách Dân tộc  chủ trì, cơ quan chuyển giao công  nghệ  là  Trung  tâm  Nghiên  cứu  Bò và Đồng cỏ Ba Vì (Viện Chăn  nuôi,  Bộ  Nông  nghiệp  và  Phát  triển nông thôn). Qua hơn 2 năm  thực hiện, dự án đã chuyển giao  nhiều  tiến  bộ  KH&CN  về  chăn  nuôi bò, giúp nâng cao năng suất,  chất lượng đàn bò của địa phương;  đồng thời tuyên truyền, tập huấn  làm thay đổi nhận thức của đồng  bào  từ  chăn  thả  sang  chăn  nuôi  công nghiệp theo hướng chủ động  thức ăn thô, xanh thông qua trồng  cỏ ở những vùng đất trồng trọt hiệu  quả thấp hoặc chưa sử dụng. Kết  quả đạt được của dự án mở ra tiềm  năng  lớn  giúp  đảm  bảo  vệ  sinh  môi trường, giải quyết việc làm cho  vùng đồng bào dân tộc thiểu số,  góp phần từng bước đưa người dân  địa phương thoát nghèo, vươn lên  làm giàu trên chính mảnh đất quê  hương mình.

      (4) Nhiều  điểm  sáng  về  áp  dụng  công  nghệ, kỹ thuật mới cho vùng đồng bào  dân tộc thiểu số

      Dự  án  đã  chuyển  giao  nhiều  tiến  bộ  KH&CN  giúp  người  chăn  nuôi  ở  các  địa  phương  dần  thích  nghi và hướng tới tiếp cận với mô  hình phát triển đàn bò quy mô lớn  hơn, tập trung hơn. Cụ thể:

      (5) Dự án đã thực hiện lai tạo giữa  giống bò đực Brahman với bò cái  của địa phương thông qua 2 hình  thức:  sử  dụng  tinh  đông  lạnh  của  giống  bò  thuần  Brahman  đỏ  chất  lượng cao để thụ tinh nhân tạo cho  bò cái địa phương ở một số khu vực  có  số  lượng  bò  cái  tương  đối  tập  trung và địa hình thuận tiện để tạo  “phong trào” cải tiến đàn bò thịt; sử  dụng bò đực 3/4 máu Brahman đỏ  phối giống trực tiếp với bò cái nền  của mô hình. Nhờ đó, đã tạo được  đàn bò có tỷ lệ máu ngoại cao làm  nền phục vụ công tác cải tạo giống  sau  này,  giúp  cải  thiện  tầm  vóc,  tăng năng suất đàn bê sinh ra, bò  trưởng thành có tầm vóc lớn hơn, tỷ  lệ thịt xẻ tăng từ 15 đến 20% so với  giống bò địa phương.

      (6) Bên  cạnh  phương  pháp  lai  tạo  giống được chuyển giao, dự án đã  hỗ  trợ  triển  khai  nhiều  tiến  bộ  kỹ  thuật  như:  chọn  bò  cái  làm  giống  có  tỷ  lệ  sinh  sản,  sinh  trưởng  tốt  hơn;  phát  hiện  bò  động  dục,  xác  định thời gian phối giống thích hợp  trong kỹ thuật thụ tinh nhân tạo cho  bò...; chăm sóc nuôi dưỡng bò cái  qua  các  giai  đoạn:  sơ  sinh,  tơ  lỡ,  chửa đẻ, nuôi con; tập cho bê con  ăn sớm để tách mẹ sớm, giúp bò  mẹ sớm động dục trở lại sau khi đẻ;  chăm sóc nuôi dưỡng và vỗ béo bê,  bò đực theo từng giai đoạn đến lúc  bán giết thịt; nuôi vỗ béo bò gầy,  bò  thải  loại;  phòng  bệnh,  vệ  sinh  thú y... giúp mang lại hiệu quả cao  trong chăn nuôi. Trong đó, việc áp  dụng quy trình kỹ thuật chăm sóc ở  giai đoạn nuôi nhốt vỗ béo, chuẩn  bị giết thịt không những giúp tăng  năng suất mà còn kiểm soát được  mức độ an toàn của sản phẩm cung  cấp tới người tiêu dùng, đây là kỹ  thuật rất mới đối với đồng bào dân  tộc thiểu số.

      (7) Để đảm bảo nguồn thức ăn cho  bò trong suốt quá trình nuôi, nhất  là  vào  mùa  rét,  dự  án  đã  hỗ  trợ  trồng và thâm canh giống cỏ VA06  năng suất cao, chất lượng phù hợp  với các huyện vùng dự án, nhờ đó  tạo được nguồn thức ăn xanh thô  chủ động, đồng thời hỗ trợ hiệu quả  công  tác  chuyển  dịch  cơ  cấu  cây  trồng, vật nuôi trong nông nghiệp.  Đặc biệt, dự án còn áp dụng công  nghệ ủ chua để chế biến thức ăn,  giúp  tận  dụng  các  loại  phế,  phụ  phẩm nông nghiệp như rơm rạ, thân  cây ngô, thân, ngọn, lá sắn... tạo ra  công  thức  thức  ăn  tinh  từ  nguồn  nguyên liệu sẵn có tại địa phương.  Việc tạo được khẩu phần ăn có giá  trị dinh dưỡng cao không chỉ giúp  tiết kiệm chi phí, nâng cao hiệu quả  chăn nuôi, mà còn góp phần bảo vệ  môi trường do tận dụng một lượng  lớn phế phụ phẩm sau thu hoạch và  chế biến thải ra.

      (8) Trong  công  tác  phòng,  chống  bệnh  tật  cho  bò,  bên  cạnh  việc  áp dụng các kỹ thuật về xây dựng  chuồng trại tập trung, vệ sinh thú y,  xử lý chất thải, giúp chống gió lùa  vào mùa đông, giảm thiểu ô nhiễm  môi trường trong khuôn viên hộ và  làng, bản..., dự án còn chuyển giao  cho  cán  bộ  kỹ  thuật  địa  phương  và người chăn nuôi các biện pháp  phòng,  chữa  bệnh  cho  bò  thông  qua việc sử dụng các loại vắcxin:  tụ huyết trùng, lở mồm long móng...  

      (9) Đến nay, dự án đã đào tạo được  10  kỹ  thuật  viên,  tập  huấn  cho  hơn 300 lượt người dân trong vùng  tiếp thu và làm chủ các quy trình  kỹ thuật mới. Đồng thời, xây dựng  thành  công  mô  hình  nuôi  bò  sinh  sản với 240 bò cái  nền địa phương  và 4 bò đực 3/4 máu bò Brahman  đỏ.  Số  bê  sinh  ra  sau  đợt  phối  giống lần 1 là 180, gồm 90 con đực  và 90 con cái (hiện có 216 bò cái  đang chửa sau đợt phối giống lần  2). Khối lượng sơ sinh của bê  ≥  22  kg (tăng 10-12% so với bê thường),  khối lượng 3 tháng đạt 90-100 kg,  khối lượng 6 tháng tuổi đạt 115-130  kg,  dự  kiến  sau  24  tháng  tuổi  sẽ  đạt 290-330 kg/con. Dự án còn xây  dựng thành công mô hình trồng cỏ  voi lai VA06 thâm canh năng suất  cao, chất lượng tốt với diện tích 6  ha,  đạt  chỉ  tiêu  350  tấn/ha/năm,  dự kiến đến khi kết thúc sẽ tạo ra  6.300 tấn thức ăn thô xanh.

      (10) Theo  tính  toán,  sau  khi  dự  án  kết thúc, các mô hình tập trung và  mô hình vệ tinh của dự án sẽ cho  ra 366 con bê lai với trên 50% máu  bò Brahman. Trong số bê lai này,  những con cái sẽ tiếp tục được nuôi  phục vụ nhân giống chất lượng cao  cung  cấp  cho  các  tỉnh  Phú  Thọ,  Tuyên Quang, Vĩnh Phúc; còn bê  đực được nuôi và vỗ béo bán thịt  ở 20 tháng tuổi với khối lượng bình  quân 350 kg/con, tạo ra lượng thực  phẩm chất lượng. Có thể nói, dự án  không chỉ nâng cao trình độ dân trí,  nhận thức về tầm quan trọng của  KH&CN cho người dân vùng cao,  mà còn giúp tăng thu nhập trên 1  đơn vị diện tích đất canh tác, góp  phần  chuyển  dịch  cơ  cấu  ngành  chăn  nuôi,  tạo  nguồn  thu  nhập  đáng  kể  cho  đồng  bào  vùng  dân  tộc và miền núi các tỉnh Phú Thọ,  Tuyên Quang, Vĩnh Phúc.    

(Nguồn: “KH&CN thúc đẩy chăn nuôi bò thịt tại một số tỉnh Trung du, miền núi phía Bắc”, Tuấn Hải, Tạp chí Khoa học & Công nghệ Việt Nam, số 9, năm 2019)

Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi bên dưới:

Những điều chúng ta đã biết về biến chủng B.1.1.529

1. Dù mới được phát hiện, biến chủng B.1.1.529 - chủng virus có số lượng đột biến cao hơn đáng kể so với chủng Delta - đã kịp lây lan ra ít nhất hai châu lục.

Các nhà khoa học Nam Phi hôm 25/11 phát hiện một biến chủng Covid-19 mới mang tên B.1.1.529. Chủng virus này là sự kết hợp bất thường của nhiều đột biến, dấy lên lo ngại virus sẽ có khả năng xâm nhập hệ miễn dịch tốt hơn, cũng như dễ lây lan hơn trong cộng đồng.

2. “Thật không may, chúng tôi đã tìm thấy một biến chủng mới đáng lo ngại ở Nam Phi”, giáo sư Tulio de Oliveira, chuyên gia virus học hàng đầu Nam Phi, nói. “Biến chủng này làm chúng tôi bất ngờ. Đây là một bước tiến triển lớn của virus”.

Cho đến nay, Nam Phi, Botswana và Hong Kong là những nơi đã ghi nhận các ca dương tính với chủng virus mới. Nếu B.1.1.529 thực sự có khả năng kháng vaccine hay có tốc độ lan truyền nhanh hơn biến chủng Delta, biến chủng này sẽ gây ra mối đe dọa lớn khi thế giới dần bước ra khỏi đại dịch.

3. Sự lây lan đáng lo ngại

Các kết quả thí nghiệm ban đầu cho thấy virus đang lây lan nhanh chóng ở tỉnh Gauteng, Nam Phi. Một số nhà khoa học tin tưởng 90% ca mắc mới Covid-19 tại địa phương trên nhiễm biến chủng B.1.1.529. Chủng virus trên nhiều khả năng đã lan ra 8 tỉnh còn lại của quốc gia này, theo Guardian.

Ngày 25/11, Viện Bệnh truyền nhiễm Quốc gia Nam Phi (NICD) thông báo nước này ghi nhận 2.465 ca mắc mới Covid-19, gần gấp đôi con số của ngày trước đó. NICD chưa khẳng định nguyên nhân của đợt bùng phát mới là biến chủng B.1.1.529. Tuy vậy, nhiều nhà khoa học tin vào khả năng này. Nam Phi đã phát hiện khoảng 100 mẫu bệnh phẩm dương tính với biến chủng B.1.1.529.

Nam Phi đang là quốc gia ghi nhận số bệnh nhân mắc biến chủng B.1.1.529 nhiều nhất thế giới. Ảnh: Guardian.

4. Ngoài ra, các ca bệnh còn được phát hiện ở Botswana và Hong Kong. Ca bệnh tại Hong Kong đến đặc khu hành chính này từ Nam Phi ngày 11/11 và được phát hiện dương tính với Covid-19 ngày 15/11.

Lo ngại trước sự lây lan của biến chủng mới, Anh áp đặt lệnh cấm bay đối với Nam Phi và 5 quốc gia láng giềng (Namibia, Lesotho, Botswana, Eswatini và Zimbabwe) từ trưa 26/11.

Vùng Scotland yêu cầu toàn bộ người đến từ các quốc gia trên phải tự cách ly và xét nghiệm PCR hai lần. Những ai đến Scotland sau 4 giờ sáng ngày 27/11 sẽ phải cách ly tại khách sạn.

Ngoài ra, những người đến Anh trong những ngày qua sẽ được truy vết và đề nghị xét nghiệm để tránh gây ra chuỗi lây nhiễm mới.

5. Israel cũng ban hành lệnh cấm công dân đến khu vực phía Nam châu Phi, bao gồm 6 quốc gia trong danh sách cấm bay của Anh và Mozambique. Những du khách nước ngoài từ các nước này cũng bị cấm nhập cảnh.

Thủ tướng Israel Naftali Bennett đề nghị “chuẩn bị cho khả năng dừng toàn bộ chuyến bay đi và đến từ các quốc gia này đến Israel, hoặc một phương án khác để ngăn chặn chủng virus mới lan đến Israel”, Times of Israel đưa tin.

6. Nhiều dạng đột biến

Giới khoa học Nam Phi cho biết B.1.1.529 là biến chủng đáng sợ nhất mà họ phải đối mặt kể từ khi đại dịch Covid-19 bùng phát. Chủng virus này có tổng cộng 50 đột biến, theo giáo sư De Oliveira. Trong đó, 32 đột biến được phát hiện ở protein gai, gấp đôi so với biến chủng Delta.

Đột biến ở protein gai có thể tác động tới khả năng lây lan và độc lực của virus, cũng như khiến hệ miễn dịch gặp thêm khó khăn khi tấn công các mầm bệnh này.

Các nhà khoa học Nam Phi phát hiện tới 32 đột biến ở protein gai của biến chủng B.1.1.529. Ảnh: BBC.

7. Trong miền liên kết thụ thể (RBD) của biến chủng B.1.1.529, các nhà khoa học phát hiện 10 đột biến, gấp 5 lần biến chủng Delta. RBD là bộ phận đầu tiên của virus tiếp xúc với tế bào, giúp virus tấn công và giành quyền kiểm soát.

Theo giới khoa học, nhiều đột biến trong số này có khả năng đến từ chỉ một bệnh nhân.

Virus chứa nhiều dạng đột biến chưa hẳn là tin xấu. Các nhà khoa học cần nghiên cứu sâu hơn để hiểu rõ cơ chế hoạt động của chúng. Tuy vậy, qua nhiều lần biến đổi, các chủng virus mới khác biệt đáng kể so với virus gốc, gây ra nguy cơ suy giảm hiệu quả của vaccine.

8. Một số đột biến trong chủng B.1.1.529 từng xuất hiện ở các chủng khác, giúp các nhà khoa học có thể dự đoán phần nào về mối nguy hiểm của virus. Ví dụ, đột biến N501Y được xác định làm tăng khả năng lây lan của virus trong cộng đồng.

9. Tuy vậy, từng có nhiều chủng virus có vẻ nguy hiểm trên lý thuyết, nhưng không gây ra nhiều tác động trên thực tế. Nam Phi là quốc gia hiểu rõ điều này.

Đầu năm 2021, mối lo ngại lớn nhất của cộng đồng quốc tế là biến chủng Beta, cũng xuất phát từ Nam Phi. Tuy nhiên, chủng Beta sớm bị biến chủng Delta áp đảo chỉ sau một vài tháng.

“Biến chủng Beta chỉ có sức chống chọi tốt hơn với hệ miễn dịch. Trong khi đó, chủng Delta vừa có khả năng kháng hệ miễn dịch, vừa có khả năng lây lan mạnh”, giáo sư Ravi Gupta tại Đại học Cambridge giải thích.

(Nguồn: Zing.vn)

Đọc văn bản dưới dây và trả lời câu hỏi:

Dấu hiệu cảnh báo sớm bệnh ung thư phổi

1. Tình trạng ho dai dẳng nhiều ngày không dứt, giảm cân đột ngột hay thở khò khè có thể là những dấu hiệu ban đầu của bệnh ung thư phổi thường bị bỏ qua.

Ung thư phổi bắt đầu từ phổi, nhưng nó có thể di căn ra ngoài phổi đến các bộ phận khác nếu không được điều trị sớm.

2. Ở giai đoạn đầu, ung thư phổi có thể không tạo ra bất kỳ triệu chứng đáng chú ý nào và nhiều người không được chẩn đoán cho đến khi bệnh tiến triển nặng. Nhưng ở nhiều người, một số dấu hiệu ban đầu có thể xuất hiện.

Tuy nhiên, những triệu chứng này nhẹ và rất phổ biến, có thể trùng lặp với các tình trạng khác. Vì vậy, điều quan trọng là nếu phát hiện bất thường, bạn nên đi khám sớm để được chẩn đoán và điều trị kịp thời.

3. Các triệu chứng ban đầu của ung thư phổi

Các dấu hiệu và triệu chứng ung thư phổi giai đoạn đầu được phát hiện sớm có thể giúp tầm soát cho những người có nguy cơ cao mắc bệnh.

4. Ho không khỏi hoặc không giảm

Bạn cần cảnh giác với cơn ho mới kéo dài. Ho do cảm lạnh hoặc nhiễm trùng đường hô hấp sẽ hết sau một tuần hoặc lâu hơn chút, nhưng ho dai dẳng kéo dài có thể là triệu chứng của ung thư phổi.

Ngoài ra, nếu bạn hút thuốc, cơn ho mạn tính thay đổi cũng có thể cảnh báo bệnh. Nếu bạn ho thường xuyên, sâu hoặc nghe khàn hơn, ho ra máu hoặc ra lượng chất nhầy bất thường, đây là thời điểm bạn nên đi khám.

 

              Ho không dứt, lâu khỏi là một trong những dấu hiệu cảnh báo ung thư phổi. Ảnh: Medicalnewstoday.

5. Thay đổi nhịp thở hoặc thở khò khè

Theo Healthline, khó thở hoặc thay đổi nhịp thở đột ngột cũng là những triệu chứng có thể xảy ra của ung thư phổi. Chúng xảy ra nếu ung thư phổi làm chặn hoặc thu hẹp đường thở, hoặc nếu chất lỏng từ khối u phổi tích tụ trong lồng ngực. Bạn nên chú ý tới cảm giác bị hẫng hoặc hụt hơi. Nếu cảm thấy khó thở sau khi leo cầu thang hoặc thực hiện các công việc nhẹ nhàng, bạn đừng bỏ qua nó.

Khi đường thở bị co thắt, tắc nghẽn hoặc viêm, phổi có thể tạo ra tiếng thở khò khè hoặc tiếng rít khi bạn thở. Điều này có thể do nhiều nguyên nhân, một số nguyên nhân lành tính và dễ điều trị. Thở khò khè có thể là triệu chứng của hen suyễn, dị ứng hoặc ung thư phổi. Vì vậy, đây là lý do bạn cần đi khám để được chẩn đoán chính xác.

6. Đau cơ thể

Ung thư phổi có thể gây ra các cơn đau ở ngực, vai hoặc lưng. Cảm giác đau nhức có thể không liên quan triệu chứng ho. Bạn nên cho bác sĩ biết nếu thấy đau ngực, dù là đau nhói, âm ỉ, liên tục hay ngắt quãng. Bạn cũng nên lưu ý xem nó chỉ giới hạn ở khu vực cụ thể hay xảy ra trên toàn bộ ngực.

Khi ung thư phổi gây ra đau ngực, cảm giác khó chịu có thể do các hạch bạch huyết giãn nở hoặc di căn đến thành ngực, niêm mạc xung quanh phổi, được gọi là màng phổi hoặc xương sườn. Ung thư phổi đã di căn đến xương có thể gây đau ở lưng hoặc các vùng khác trên cơ thể. Đau xương thường nặng hơn vào ban đêm và tăng lên khi cử động.

Nhức đầu có thể là dấu hiệu cho thấy ung thư phổi đã di căn đến não. Tuy nhiên, không phải tất cả cơn đau đầu đều liên quan vấn đề này.

7. Giọng nói trầm, khàn

Theo Mayo Clinic, nếu bạn nghe thấy sự thay đổi đáng kể trong giọng nói của mình hoặc nếu ai đó nói rằng giọng nói của bạn nghe trầm, khàn hơn, hãy liên hệ với bác sĩ.

Thông thường, cảm lạnh gây ra khàn giọng, nhưng triệu chứng này kéo dài có thể chỉ ra điều gì đó nghiêm trọng hơn xảy ra. Khàn giọng liên quan ung thư phổi có thể xảy ra khi khối u ảnh hưởng dây thần kinh điều khiển thanh quản, hoặc dây thanh.

8. Giảm cân đột ngột

Đột nhiên giảm cân, từ 4,5 kg trở lên, có thể liên quan ung thư phổi hoặc loại ung thư khác. Khi bị ung thư, giảm cân có thể là do tế bào ung thư sử dụng năng lượng của cơ thể. Khối u này cũng làm tăng đột ngột sự trao đổi chất trong cơ thể và gây ra tình trạng trên.

9. Các triệu chứng ung thư phổi giai đoạn cuối

Trong giai đoạn tiến triển của ung thư phổi, khối u thường di căn đến các cơ quan khác, chẳng hạn xương hoặc não. Các triệu chứng của ung thư phổi giai đoạn cuối có thể bao gồm: Mệt mỏi, đau đớn, khó thở, ho dai dẳng, chán ăn.

Theo Trung tâm Điều trị Ung thư Mỹ (CTCA), nếu ung thư phổi lan đến cơ quan khác, các triệu chứng phụ thuộc vào bộ phận của cơ thể đã bị di căn, cũng như kích thước và vị trí. Đôi khi, bệnh di căn có thể không gây ra bất kỳ triệu chứng nào, mặc dù khoảng 30-40% người bị ung thư phổi sẽ có các triệu chứng di căn.

Nếu ung thư đã di căn đến xương, nó có thể gây ra đau nhức xương, thường ở đốt sống hoặc xương sườn. Các triệu chứng khác bao gồm gãy xương, táo bón hoặc giảm tỉnh táo do lượng canxi cao.

Nếu gan bị ảnh hưởng, các triệu chứng có thể bao gồm buồn nôn, rất mệt mỏi, chướng bụng, sưng bàn chân và bàn tay do tích nước, da vàng hoặc ngứa.

Nếu não hoặc tủy sống bị ảnh hưởng, các triệu chứng có thể bao gồm đau đầu, mờ hoặc nhìn đôi, khó nói hoặc co giật.

Sưng bàn tay, chân có thể cảnh báo ung thư phổi di căn đến gan. Ảnh: Healthcentral.

Ung thư phổi diễn tiến có thể gây ra các biến chứng nhất định, phổ biến nhất là hội chứng Horner và hội chứng tĩnh mạch chủ trên.

10. Hội chứng Horner: Xảy ra khi các khối u ở phần trên của phổi, được gọi là khối u đỉnh phổi, có thể ảnh hưởng dây thần kinh ở mặt và mắt. Các triệu chứng bao gồm: Mí mắt trên bị sụp xuống hoặc yếu đi; kích thước đồng tử hai bên lệch nhau; giảm tiết mồ hôi trên mặt; đau vai cực độ.

11. Hội chứng tĩnh mạch chủ trên: Xảy ra khi các khối u ở phía trên bên phải của phổi có thể gây áp lực lên tĩnh mạch chủ trên, đây là tĩnh mạch lớn mang máu từ đầu và cánh tay đến tim. Áp lực có thể khiến máu lưu thông trở lại trong tĩnh mạch.

Các triệu chứng của hội chứng tĩnh mạch chủ trên có thể bao gồm: Sưng ở mặt, cổ, cánh tay và phần trên của ngực, đôi khi làm cho làn da chuyển sang màu đỏ xanh; đau đầu; chóng mặt hoặc mất ý thức.

Điều quan trọng là bạn phải nói chuyện với bác sĩ ngay lập tức nếu có bất kỳ bất thường nào vì hội chứng tĩnh mạch chủ trên có thể đe dọa tính mạng.

(Nguồn: Zing.vn)

Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi bên dưới:

Sự thật về đất nước Kuwait

1. Kuwait được biết đến là một đất nước nằm ở phía bắc ở Đông Ả-rập, ngay cạnh vịnh Ba Tư, sở hữu nguồn tài nguyên dầu mỏ khổng lồ và những công trình "đẳng cấp thế giới". Nhưng những điều bạn biết chưa phải là tất cả. Có nhiều điều thú vị về Kuwait mà ngay cả người bản địa đôi khi còn không khỏi ngạc nhiên khi nghe tới.

Một cường quốc siêu giàu của thập kỷ trước

Kuwait là một nền kinh tế tương đối cởi mở, nhỏ và người dân tận hưởng một GDP bình quân đầu người (PPP) 67.970 đô-la. Theo báo cáo World Bank, Kuwait có thứ hạng giàu có ở mức thứ 3 tại khu vực Trung Đông và mức thứ 5 trên toàn cầu trong thập kỷ trước.

2. Sở hữu đồng tiền giá trị nhất thế giới

Đơn vị tiền tệ của Kuwait - đồng Dinar (KWD) - được công nhận là một trong những đơn vị tiền tệ có giá trị nhất trên thế giới dựa trên mệnh giá mặt bằng chung. Nền kinh tế Kuwait thịnh vượng và ổn định chủ yếu nhờ vào hoạt động xuất khẩu tài nguyên dầu mỏ. Nhu cầu năng lượng toàn cầu khiến đơn vị tiền tệ của Kuwait có giá trị lớn là điều dễ hiểu. Với 1 USD, bạn sẽ chỉ đổi được 0.3 KWD mà thôi.

3. Quan hệ ngoại giao vững chắc với Việt Nam

Việt Nam - Kuwait chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 10/01/1976. Kuwait là một trong những quốc gia đầu tiên ở Trung Đông và là nước đầu tiên trong khối Hội đồng hợp tác vùng Vịnh (GCC) thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam ngay sau khi Việt Nam giành được độc lập, thống nhất đất nước vào năm 1975.

4. Sở hữu biểu tượng viễn thông

Tòa tháp Tự do, là một công trình viễn thông có độ cao 372 mét nằm ở trung tâm thành phố Kuwait. Tòa tháp này nằm trong top 05 tòa tháp viễn thông, top 39 công trình xây dựng cao nhất thế giới. Ngoài ra, tòa tháp Tự do còn cao hơn tháp Eiffel hơn 10%.

5. Tháp chọc trời cao nhất thế giới trong tương lai.

Kuwait hiện đang trong quá trình xây dựng tòa nhà chọc trời cao nhất thế giới. Tòa tháp Burj Mubarak al-Kabir dự kiến có độ cao 1,001m và khánh thành vào năm 2030. Tuyệt tác kiến trúc này được lấy cảm hứng từ chuỗi giai thoại "Ngàn lẻ một đêm" với tham vọng truyền tải sự diệu kì của thế giới Trung Đông.

6. Sở hữu nguồn tài nguyên dầu mỏ lớn, trong top 10 thế giới

Nền kinh tế Kuwait rất thịnh vượng khi hoạt động khai thác và xuất khẩu xăng dầu đem lại hơn 90% nguồn thu nhập cho chính phủ Kuwait. Hiện tại, năng lực khai thác dầu khoáng trung bình trong một ngày của Kuwait lên tới 3.15 triệu thùng. Theo chiến lược phát triển đến năm 2040, Kuwait sẽ đạt được sản lượng trung bình một ngày lên 4.75 triệu thùng.

7. Khu công nghiệp khai thác dầu mỏ khổng lồ

Mỏ dầu Burgan nằm ở phía Đông Nam trong địa phận Kuwait là mỏ dầu lớn thứ 2 của thế giới, chỉ sau mỏ dầu Ghawar của Ả-rập-xê-út. Nhờ vậy, Kuwait có lượng dự trữ tài nguyên dầu mỏ lớn thứ 6 thế giới, với hơn 104 tỉ thùng theo báo cáo vào năm 2020, trong đó hơn 70 tỉ thùng được lưu trữ ở Burgan. Dù đứng từ xa, nhưng những ngọn lửa nghi ngút cùng nhiều cột khói trải dài cả vùng vẫn có thể nhìn rõ bằng mắt thường, chắc hẳn là một cảnh tượng choáng ngợp.

8. Tại Kuwait, các bác sĩ đã có thể phẫu thuật hoàn toàn bằng sự trợ giúp của robot Da Vinci trong quá trình điều trị cho bệnh nhân. Các bệnh viện đã có hệ thống nhập dữ liệu đồng bộ, trong đó mọi thành viên đội ngũ y bác sĩ đều sử dụng để phục vụ chuyên môn. Kế hoạch Tầm nhìn 2035 của Kuwait sẽ đưa quốc gia dầu mỏ đa dạng hóa nền kinh tế của mình trong đó chuyển đổi số là chiến lược chủ đạo và ngành y tế là mảng đầu tư trọng tâm.

9. Văn hóa phong phú, đa phương

Trung tâm văn hóa Sheik Jaber Al-Ahmad là một nhà hát lớn cũng như là một trung tâm văn hóa của thủ phủ Kuwait. Tổng diện tích toàn bộ công trình hoành tráng, uy nghi này là 214,000 mét vuông.

10. Hollywood của Vùng Vịnh

Phim truyền hình do Kuwait sản xuất là những bộ phim truyền hình ăn khách nhất của khu vực Vùng Vịnh, hấp dẫn cả những đôi tượng khán giả ở Tunisia. Có thể nói, Kuwait là nơi tập trung phần lớn ngành phim ảnh của cả vùng vịnh khi các phim truyền hình được quay và sản xuất tại Kuwait.

11. Giải đua lạc đà kịch tính hằng năm

Năm 2006, Kuwait là quốc gia đầu tiên giới thiệu môn thể thao đua lạc đà, trong đó người chơi sử dụng bộ điều khiển từ xa để điều hướng vận động viên bốn chân của mình. Hằng năm, giải đua lạc đà được tổ chức từ tháng 10 đến tháng 04 năm sau, thu hút sự tham gia của hàng ngàn chú lạc đà khỏe mạnh nhất cùng sự theo dõi của khán giả toàn quốc.

Nhạc kịch là một phần quan trọng của văn hóa bản địa

Kuwait là quốc gia Trung Đông duy nhất có văn hóa truyền thống về nhạc kịch, một trong những loại hình giải trí của giới thượng lưu. Văn hóa truyền thống nhạc kịch tại Kuwait đã có lịch sử lâu đời từ thập niên 20s của thế kỷ trước.

Nguồn: khoahoc.tv

Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi bên dưới:

Hiện tượng băng tan để lại những hậu quả nặng nề như thế nào?

Hiện nay bên cạnh việc đối mặt với sự ô nhiễm trầm trọng của môi trường hay hiện tượng hiệu ứng nhà kính,… thì Trái Đất của chúng ta còn đang phải đối mặt với một hiện tượng đáng lo ngại nữa đó chính là hiện tượng băng tan ở cả 2 cực (Bắc cực và Nam cực). Biến đổi khí hậu trên trái đất khiến băng tan nhanh chóng và mực nước biển dâng cao. Việc này vô cùng nghiêm trọng. Thậm chí có thể khiến nhiều thành phố ven biển biến mất. Trong đó có cả những thành phố thuộc Việt Nam.

1. Nguyên nhân của hiện tương băng tan

Nguyên nhân tự nhiên

Trái Đất nóng lên toàn cầu là do việc phát thải lượng lớn khí metan quá mức cho phép ở ngưỡng giới hạn nhất định từ Bắc Cực và các vùng đất ẩm ướt. Mà khí metan chính là loại khí nhà kính giữ nhiệt.

Hiện tượng núi lửa phun trào cũng là một trong những nguyên nhân gây ra hiện tượng băng tan. Bởi với khối lượng hàng tấn tạo thành tro bụi mỗi lần phun trào. Đây chính là 1 trong những nguyên nhân làm cho khí hậu nóng lên toàn cầu.

Đặc biệt, khi nhiệt độ trung bình của Trái Đất nóng lên thì sẽ làm cho lượng băng ở Nam Cực và Bắc Cực tan ra. Khi lượng băng tan thì sẽ làm lộ ra lớp băng CO2 vĩnh cửu. Lớp băng này sẽ bặt đầu tham gia vào quá trình tuần hoàn CO2 trên Trái Đất. Khi đó, cây xanh sẽ ngày càng ít đi, không có khả năng để điều hòa lượng khí CO2. Vì lượng khí lúc này đã quá tải, vượt quá mức giới hạn của tự nhiên nên Trái Đất càng ngày càng nóng lên. Và cuối cùng lại lặp lại một chu kì như trên.

Nguyên nhân nhân tạo

Nguyên nhân gây ra hiện tượng trên chủ yếu là do con người. Con người hoạt động công nghiệp xả khí thải ra môi trường, hoạt động giao thông, chặt phá rừng bừa bãi, làm khí hậu toàn cầu bị biến đổi. Các khí nhà kính bị tích lũy quá nhiều mà chủ yếu là metan và CO2. Theo đó, những khí này khi thải vào khí quyển sẽ ngăn bức xạ mặt trời phản xa ra ngoài làm cho nhiệt độ trái đất tăng lên. Một số nguyên nhân cụ thể như:

Quá trình công nghiệp hóa

- Do sự phát triển nhanh chóng như vũ bão của khoa học công nghệ. Cùng sự phát triển của nền kinh tế nên nhiều nhà máy xả thải trực tiếp và phun khí thải vào môi trường. Số lượng phương tiện từ xe cộ (xe máy, xe đạp, ô tô…) cũng đã thải ra một lượng lớn khí CO2.

- Các hoạt động đốt cháy nhiên liệu hóa thạch (dầu, khí đốt, than đá…). Cùng các loại khí thải khác nên lượng nhiệt bị giữ lại ở bầu khí quyển.

- Khi lượng khí CO2 có nhiều trong bầu khí quyển do ánh nắng Mặt Trời chiếu vào. Làm tăng nhiệt độ của bề mặt Trái Đất.

Rừng bị tàn phá

- Nếu như khí CO2 thải ra thì theo quy luật tự nhiên sẽ được cây xanh quang hợp. Để cung cấp lượng oxi cần thiết cho con người. Tuy nhiên, số lượng cây xanh đã bị tàn phá hết nên đã không thể phân giải hết lượng khí CO2 trong môi trường. Khiến cho Trái Đất càng ngày càng nóng lên rõ rệt.

- Diện tích rừng bị tàn phá ngày càng rộng nên tia nắng Mặt Trời chiếu xuống Trái Đất không có tầng lá xanh của cây chặn lại. Nên khi chiếu xuống mặt đất sẽ hình thành nên những vùng đất khô cằn, nóng như hoang mạc. Mùa mưa không có rừng để giữ nước lại nên sẽ gây lũ lụt còn mùa khô thì xảy ra hạn hán.

Điều đó gây nên những thay đổi về khí hậu làm ảnh hưởng rất nhiều đến môi trường sống, bầu khí quyển và khí hậu nói chung. Không những thế nó còn làm ảnh hưởng đến hệ sinh thái. Và tác động trực tiếp đến đời sống của con người.

2. Hậu quả khi băng tan

Biến đổi khí hậu

Khoảng hàng trăm triệu tấn khí mêtan, đang bị nhốt dưới tầng đóng băng vĩnh cửu ở Bắc Cực. Một trong những mối lo ngại lớn nhất là: hiện tượng băng tan vào mùa hè ở biển Bắc Cực, và nhiệt độ gia tăng nhanh chóng trên toàn bộ khu vực, sẽ làm cho lượng khí mêtan khổng lồ đang bị mắc kẹt có thể bất ngờ phát thải vào khí quyển, dẫn đến sự biến đổi khí hậu (trên phạm vi toàn cầu) nhanh chóng và nghiêm trọng

Đặc biệt, các nhà khoa học đã phát hiện ra rằng tầng đất bị đóng băng vĩnh cửu ở Bắc cực chứa tới 1672 tỷ tấn cacbon. Chúng cao gấp đôi lượng COtrong khí quyển. Lượng khí này nếu được giải phóng khi lớp băng vĩnh cửu ở Bắc cực tan sẽ làm cho nhiệt độ của Trái Đất tăng lên. Gây ra hiệu ứng nhà kính và suy giảm tầng ozon,  đẩy mạnh sự biến đổi khí hậu theo hướng tiêu cực.

Nắng nóng kéo dài

Các đợt nắng nóng kéo dài khiến đất đai khô cằn, gây ra tình trạng khan hiếm nước sạch, cháy rừng lan rộng mất kiểm soát, bão bụi và lũ quét. Ở nhiều nơi trên thế giới, việc thiếu nước dẫn tới bệnh dịch nghiêm trọng. Trái lại, mưa lớn khiến sông hồ tràn nước, phá hủy nhà cửa. Làm nguồn nước uống nhiễm bẩn, rác thải lan tràn và không khí ô nhiễm. Đồng thời, điều kiện nóng ẩm cũng tạo thuận lợi cho bệnh dịch lây lan qua nước và thức ăn phát triển.

Ảnh hưởng tới tàu thuyền qua lại trên biển

Hiện tượng băng tan sẽ tạo nên những tảng băng lớn. Làm ảnh hưởng tới tàu thuyền qua lại. Khi các con thuyền đi trên biển va phải các tảng băng trôi cò kích thước lớn sẽ làm tàu bị hư hỏng nặng. Thậm chí có thể bị nhấn chìm.

 

Mực nước biển dâng cao

Các nhà khoa học đã tính toán rằng, khi toàn bộ băng trên hành tinh tan chảy vì biến đổi khí hậu. Mực nước biển sẽ tăng lên 65m. Có thể dẫn đến hiện tượng “biển lấn” – nước biển xâm nhập sâu vào trong đất liền. Dẫn đến tình trạng các vùng đất ven biển, ven sông nhiễm mặn ngày càng nhiều. Đặc biệt, nó còn thiếu cả nước ngọt cho sản xuất và sinh hoạt. Hơn nữa các đảo, quần đảo và các vùng ven biển cũng có thể sẽ bị nhấn chìm, con người sẽ mất đất, mất nhà.

Bên cạnh đó, nước biển cũng có độ axit cao hơn, phần lớn là do hấp thụ khí thải. Nếu nồng độ này tiếp tục tăng lên, hệ sinh vật dưới biển sẽ phải đối mặt với nguy cơ diệt vong lớn. Nhất là các loài có vỏ hoặc xương như thân mềm, cua, san hô,…

Băng tan gây ô nhiễm không khí

Nhiệt độ tăng cao cũng khiến tình trạng ô nhiễm không khí trầm trọng hơn do tầng ozone. Đặc biệt là lượng khí thải từ xe cộ, nhà máy, các nguồn khác phản ứng với ánh sáng mặt trời và nhiệt độ,… Tầng ozone mặt đất là nhân tố chính gây sương mù quang hóa. Và nhiệt độ càng tăng thì lớp sương mù càng dày. Không khí bẩn khiến tỷ lệ nhập viện và tử vong ở bệnh nhân hen suyễn tăng lên. Làm tình trạng người bị bệnh tim hay phổi trầm trọng hơn.

Ảnh hưởng tới động vật

Nhiệt độ trái đất hiện nay đang làm cho các loài sinh vật biến mất hoặc có nguy cơ tuyệt chủng. Do mất môi trường sống vì đất bị hoang hóa, do nạn phá rừng và do nước biển ấm lên. Khoảng 50% các loài động thực vật sẽ đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng vào năm 2050. Nếu nhiệt độ trái đất tăng thêm từ 1,1 đến 6,4 độ C nữa. Ví dụ như là loài cáo đỏ, trước đây chúng thường sống ở Bắc Mỹ thì nay đã chuyển lên vùng Bắc cực.

Loài gấu Bắc cực cũng là một loài điển hình. Nếu lượng băng tan với tốc độ chóng mặt như hiện nay thì việc kiếm ăn của loài gấu này gặp rất nhiều khó khăn. Cũng tương tự như Gấu Bắc cực, chim cánh cụt ở Nam cực cũng chịu chung số phận. Khi mà diện tích băng ngày càng giảm đồng nghĩa vời việc bị mất nơi cư trú và nguồn thức ăn.

Tác động của băng tan tới con người

Và con người cũng không thể nào tránh được những hậu quả mà chính họ góp phần tạo nên. Ví dụ như bệnh dịch, thiên tai, mùa màng thất bát,… Chúng đã, đang và sẽ ảnh hưởng tới đời sống của nhân loại. Nhân loại sẽ phải đối mặt với khó khăn lớn đe dọa tới sự sống trên Trái Đất.

Hãy cùng chung tay bảo vệ sự trong lành của Trái Đất. Điều đó cũng chính là bảo vệ sự sống của chính mình và nhân loại..

(Nguồn: aqualife.vn)

Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:

Khám phá Kim tự tháp

1. Trong số những thành tựu văn minh tiêu biểu của thế giới cổ đại, kim tự tháp chính là công trình kỳ bí bậc nhất. Hàng nghìn năm đã trôi qua, mặc dù trình độ văn minh của nhân loại đã có những phát triển vượt bậc, song khi nghiên cứu về các kim tự tháp có thể thấy những gì người Ai Cập cổ đại để lại vẫn còn là bí ẩn mà khoa học không dễ giải thích.

2. Kim tự tháp là cách gọi chung của các kiến trúc hình chóp có đáy là hình vuông với bốn mặt bên là tam giác đều. Ở Ai Cập đến nay người ta tìm ra 138 kim tự tháp. Tất cả đều được xây ở tả ngạn sông Nile, dòng sông dài nhất thế giới với hơn 6 nghìn km. Theo các nghiên cứu thì hệ thống kim tự tháp cũng chính là lăng mộ của những vị Pharaon (tước hiệu chỉ các vị vua của Ai Cập cổ đại). Ở đó không chỉ chứa xác ướp của các bậc quyền uy tối cao nhất thời bấy giờ mà còn có cả vàng bạc, thức ăn, đồ nội thất, thậm chí cả xác ướp của những người thân, quan chức và linh mục theo hầu. Nhiều nhà khảo cổ cũng đã khẳng định rằng, kim tự tháp là nơi các Pharaon… tiếp tục cuộc sống sau cái chết (theo quan niệm thời bấy giờ).

3. Kheops là một trong những kim tự tháp lớn nhất ở Ai Cập và trên thế giới. Đây là công trình xây dựng làm lăng mộ cho Pharaon Kheops, cùng với hai kim tự tháp nhỏ hơn là Khafre và Menkaura. Kheops là một trong Bảy kỳ quan thế giới và là kỳ quan duy nhất còn tồn tại đến ngày nay.
 

4. Kim tự tháp Kheops được xây dựng vào khoảng thời gian từ năm 2580-2560 trước công nguyên. Khi mới hoàn thành, công trình này có chiều cao 149,6m. Theo ước tính, kim tự tháp Kheops được xây từ 2,3 triệu khối đá với tổng trọng lượng lên tới 5,9 triệu tấn. Dựa trên các tài liệu cổ và dựa trên ước tính khoa học cho biết, để có thể hoàn thành kim tự tháp này, số lượng nhân công dao động từ khoảng vài chục nghìn cho đến cả trăm nghìn người làm việc liên tục. Và theo ước tính, phải mất khoảng 20 năm để xây dựng xong một kim tự tháp. Điều này đồng nghĩa với việc có rất nhiều những kim tự tháp tại Ai Cập được xây dựng cùng một thời điểm để tiết kiệm thời gian.

5. Các nhà nghiên cứu khám phá về kim tự tháp Ai Cập cũng đã chỉ ra rằng kim tự tháp Kheops và nhiều kim tự tháp khác đã được xây dựng trong thời gian “rực rỡ” nhất của nền văn minh Ai Cập thời cổ đại. Đây cũng được đánh giá là cấu trúc nhân tạo tráng lệ nhất trong lịch sử loài người và tồn tại bền vững cho đến hơn 4000 năm sau.

6. Nghiên cứu cho thấy, các kim tháp tại Ai Cập được xây dựng từ các khối đá thiên nhiên nguyên khối, hoàn toàn không sử dụng các vật liệu liên kết như cách chúng ta dùng xi măng trong công nghệ xây dựng hiện đại. Các khối đá khổng lồ có khi nặng hàng chục tấn được đẽo gọt và ghép lại với nhau vô cùng vững chắc, hoàn hảo, trường tồn với thời gian và được liên kết với nhau hoàn toàn dựa trên trọng lượng của chúng. Loại đá này không phải được lấy ngay ở gần kim tự tháp mà một số trường hợp, phải được vận chuyển từ những địa điểm cách xa nơi xây dựng hàng trăm thậm chí hàng ngàn km. Và cách mà những người Ai Cập cổ đại vận chuyển những tảng đá nặng hàng tấn này vào những vị trí chính xác để hoàn thành kim tự tháp hiện còn là điều bí ẩn.

7. Bên cạnh đó, còn phải kể đến sự hiểu biết đáng kinh ngạc về thiên văn, các chòm sao và các định hướng xuất sắc của người Ai Cập. Chỉ bằng cách quan sát các vì sao, họ đã định hướng một cách chính xác gần như tuyệt đối (sai số dưới 3 độ). Cụ thể, kim tự tháp Kheops quay mặt về đúng điểm Cực Bắc của Trái Đất. Đây cũng là công trình hướng về Cực Bắc chuẩn xác nhất hơn bất cứ công trình nào trên thế giới. Dù được xây dựng từ hàng ngàn năm trước, hướng của kim tự tháp Kheops chỉ lệch điểm Cực Bắc 0,05 độ.

8. Kim tự tháp Kheops, kim tự tháp của Huni và kim tự tháp của Sneferu là ba kim tự tháp có cửa xoay ở lối ra vào. Cửa xoay ở kim tự tháp Kheops cân bằng tốt tới mức dù nặng tới 20 tấn, người bên trong có thể dễ dàng mở ra bằng cách đẩy nhẹ. Tuy nhiên, khi đóng lại, cánh cửa khít đến nỗi rất khó để nhận ra đó là cánh cửa.

9. Cùng với đó, qua nghiên cứu của các nhà khoa học, sự phân bố nhiệt độ, lưu thông không khí trong tòa kiến trúc kiểu kim tự tháp khác hẳn trong các công trình xây dựng khác. Trong kim tự tháp, tốc độ bốc hơi của nước nhanh, khiến xác động vật dễ dàng biến thành xác khô không bị mục rữa. Không khí trong kim tự tháp khô hanh, nước bốc hơi phân tán nhanh, khó bám vào về mặt kim loại nên các vật thể kim loại không bị ôxy hóa gây sét gỉ. Không gian bên trong các kim tự tháp tại Ai Cập đảm bảo điều kiện hoàn hảo về nhiệt độ, độ ẩm… với nhiệt độ luôn ở mức khoảng 20 độ C để giúp bảo quản xác một cách tốt và hoàn hảo nhất. Đây được coi là sự vận dụng những hiểu biết về hiệu ứng nhiệt cùng một số yếu tố khác của người Ai Cập cổ đại mà cho đến nay khoa học vẫn chưa thể làm rõ.

10. Về tỷ lệ kích thước của kim tự tháp, các nhà khoa học cho biết các kim tự tháp luôn có một tỷ lệ kích thước rất chuẩn dựa trên việc tính toán được số Pi, là tỷ lệ chuẩn và hiệu quả nhất để xây dựng những kiến trúc như thế này. Kim tự tháp cũng được làm chi li đến mức dù được ghép từ các khối đá lớn, riêng biệt nhưng chúng ta thậm chí không thể luồn một lưỡi dao sắc mảnh vào giữa hai phiến đá. Tại kim tự tháp Kheops, chiều cao chênh lệch giữa hai cạnh đối diện ở mức dưới 2cm.

11. Mặc dù toàn bộ thể tích kim tự tháp là khá khổng lồ nhưng thể tích không gian bên trong chỉ chiếm một phần rất nhỏ, vì lẽ đó nên kim tự tháp gần như là một kiến trúc hoàn chỉnh và đó cũng chính là lý do công trình này có thể tồn tại sừng sững mấy ngàn năm.

12. Đã có nhiều bộ phim giả tưởng cũng như các lời đồn cho rằng trong những kim tự tháp là hằng hà sa số những dòng chữ tượng hình ghi lại sự kiện và những mật truyền, lời nguyền của các bậc vua chúa ngày xưa đồng thời nhiều câu chuyện huyền bí được thêu dệt. Tuy nhiên điều này không có căn cứ xác thực và trong kim tự tháp Kheops, người ta không tìm thấy dấu vết của chữ tượng hình…
 

13. Ngày nay chúng ta có thể thấy các kim tự tháp có bề ngoài thô ráp, nhưng theo các nhà khoa học, sau khi xây dựng xong, người Ai Cập cổ đại đã bao phủ những tảng đá to bằng một lớp vật liệu làm từ đá vôi trắng có độ bóng cao để giúp kim tự tháp tỏa sáng khi ánh nắng mặt trời phản chiếu vào. Khi những kim tự tháp còn nguyên vẹn, đứng ở những ngọn núi của Israel, thậm chí là Mặt trăng cũng có thể nhìn thấy chúng phát sáng. Đó là lý do những người Ai Cập cổ mô tả kim tự tháp như là “Ikhet” hay “Ánh sáng rực rỡ”.

14. Với sự phát triển của khảo cổ học và khoa học công nghệ, sự hiểu biết của con người về kim tự tháp đã bước sang giai đoạn mới. Gần đây, hai nhà khảo cổ học người Pháp đã sử dụng radar thám hiểm trên mặt đất để phát hiện ra rằng vẫn còn một căn phòng bí mật của người Hồi giáo trong Kim tự tháp Kheops (Khufu). Căn phòng này nằm dưới phòng của Nữ hoàng và không có lối đi nào được kết nối với nó. Vì xác ướp của Khufu vẫn chưa được phát hiện ra nên hai nhà khảo cổ tin rằng xác ướp của Khufu có khả năng được chôn cất trong căn phòng bí mật này.

15. Qua hàng nghìn năm Kim tự tháp thực sự đã trở thành niềm tự hào của người dân Ai Cập và đồng thời đó cũng là nguồn cảm hứng chưa bao giờ vơi cạn đối với trí tò mò, khát khao khám phá, sáng tạo văn học nghệ thuật của con người. Sự vĩ đại của kim tự tháp đã thể hiện sự sáng tạo của người Ai Cập và cho đến nay, những bí ẩn của các kim tự tháp vẫn đang thách thức năng lực và trí tuệ của người đương đại./.

(Nguồn: Gia Linh; consosukien.vn)

 

Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:

Lời cảnh tỉnh thế giới từ biến chủng Omicron

1. Từ lâu, các nhà khoa học đã biết rằng thế giới sẽ chứng kiến các biến chủng virus corona mới do loại virus này biến đổi liên tục.

Song việc bộ trưởng Y tế Nam Phi thông báo hôm 25/11 về việc phát hiện biến chủng B.1.1.529 (Omicron) - chủng virus đang lây lan nhanh chóng ở nhiều vùng của đất nước, là lời nhắc nhở đanh thép rằng đại dịch vẫn chưa kết thúc.

Trong vài giờ sau thông báo đó, nhiều quốc gia - bao gồm Mỹ và Anh - đồng loạt cấm đi lại đến Nam Phi và các quốc gia láng giềng khác, theo CNN.

2. Mối quan ngại ngày càng lớn

Những hạn chế mới sẽ cho các cơ quan y tế liên bang Mỹ thêm thời gian để tìm hiểu về biến chủng này, bao gồm cả mức độ nghiêm trọng mà nó có thể gây ra.

Giới chức Mỹ đã hành động nhanh chóng để áp đặt các hạn chế mới. Mặc dù sự xuất hiện của biến chủng đã được cảnh báo trong vài tuần qua, họ mới biết được mức độ nghiêm trọng của nó chỉ trong những ngày gần đây.

Các quan chức Mỹ sẽ thảo luận với các nhà khoa học ở Nam Phi một lần nữa vào ngày 28/11.

3. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã nhanh chóng triệu tập một nhóm cố vấn và xác định chủng B.1.1.529 là "đáng lo ngại", đồng thời đặt tên là Omicron. WHO cũng kêu gọi các quốc gia tăng cường nỗ lực giám sát và giải trình tự gene để hiểu rõ hơn về các biến chủng của virus corona.

Các nhà sản xuất vaccine đã nhanh chóng xác định đây là một biến chủng đáng lo ngại. Moderna cho biết biến chủng Omicron mang đến một “nguy cơ tiềm ẩn lớn” đối với vaccine ngừa Covid-19 của hãng.

4. "Biến chủng Omicron bao gồm các đột biến được thấy trong biến chủng Delta, vốn được cho là làm tăng khả năng lây nhiễm. Bên cạnh đó, Omicron còn có các đột biến được thấy trong các biến chủng Beta và Delta, vốn được cho là có khả năng thúc đẩy quá trình trốn tránh hệ miễn dịch", Moderna cho biết trong một thông báo.

"Sự kết hợp của các đột biến mang đến nguy cơ tiềm ẩn lớn để đẩy nhanh sự suy yếu của khả năng miễn dịch tự nhiên và khả năng miễn dịch do vaccine tạo ra”, hãng dược phẩm Mỹ cho biết thêm.

5. Omicron cũng nhanh chóng tạo ra những đảo lộn trên thị trường. Biến chủng mới này đã khiến giá dầu giảm mạnh vào ngày 26/11 do các nhà đầu tư quan ngại các biện pháp hạn chế mới của chính phủ và tăng trưởng kinh tế chậm hơn.

Khi các nhà khoa học đang gấp rút tìm hiểu thêm về biến chủng này, các quan chức y tế toàn cầu đang khuyến khích mọi người đeo khẩu trang, tránh những nơi đông người và tiêm chủng nếu họ chưa tiêm vaccine.

6. “Các biến chủng mới liên tục xuất hiện”

"Chúng tôi hiểu rằng mọi người lo ngại. Điều tốt là chúng tôi có các hệ thống giám sát trên khắp thế giới để phát hiện những biến chủng này rất nhanh”, Maria Van Kerkhove, một quan chức của WHO, cho biết.

"Biến chủng này đã được phát hiện cách đây vài tuần, đồng thời các nhà khoa học đang chia sẻ nghiên cứu và thông tin với chúng tôi. Vì vậy, chúng tôi có thể hành động”, bà cho biết.

7. Bà Van Kerkhove cho biết điều thực sự quan trọng là người dân cần giảm mức độ tiếp xúc. Bà nhấn mạnh tầm quan trọng của các biện pháp như giãn cách, đeo khẩu trang, tránh không gian đông đúc và tiêm chủng.

Và khi thế giới biết thêm về biến chủng Omicron, hướng dẫn hiện tại về các biện pháp giảm thiểu, chẳng hạn đeo khẩu trang, có thể thay đổi.

8. Ngay cả khi đại dịch sắp kết thúc và Covid-19 trở thành bệnh đặc hữu, những biến chủng mới vẫn có khả năng xuất hiện.

Tiến sĩ Amesh Adalja, từ Đại học Johns Hopkins, cho biết mối đe dọa Covid-19 sẽ vẫn tồn tại khi nó trở thành bệnh đặc hữu. "Các biến chủng mới sẽ liên tục được tạo ra bởi virus này, hầu hết trong số đó sẽ không quan trọng".

Tuy nhiên, nhiệm vụ quan trọng vẫn là xác định đặc điểm và theo dõi các biến chủng mới để xác định tầm quan trọng của chúng, vị chuyên gia nói.

9. Gấp rút thử nghiệm vaccine

Các nhà sản xuất vaccine Covid-19 cho biết đã sẵn sàng điều chỉnh các mũi tiêm của hãng nhằm đối phó với các biến chủng mới xuất hiện.

Công ty công nghệ sinh học của Đức BioNTech cùng với nhà sản xuất dược phẩm Mỹ Pfizer đang xem xét hiệu quả của vaccine trước biến chủng B.1.1.529 (Omicron). Quá trình nghiên cứu này sẽ mất khoảng vài tuần.

"Chúng tôi hiểu mối quan ngại của các chuyên gia và đã ngay lập tức bắt đầu các cuộc nghiên cứu về biến chủng B.1.1.529", BioNTech cho biết trong một tuyên bố.

10. Bên cạnh đó, Moderna đã thông báo trong một tuyên bố hôm 26/11 rằng đang "làm việc nhanh chóng" để kiểm tra khả năng của liều vaccine hiện tại trong việc chống lại biến chủng Omicron. Dữ liệu dự kiến có trong một vài tuần tới.

"Kể từ đầu năm 2021, Moderna đã thúc đẩy một chiến lược toàn diện để dự đoán các biến chủng mới đáng lo ngại", hãng dược phẩm Mỹ cho biết.

Johnson & Johnson hôm 26/11 xác nhận họ cũng thử nghiệm hiệu quả của vaccine đối với biến chủng mới.

11. Nhà sản xuất vaccine AstraZeneca cũng đang tìm hiểu tác động của biến chủng Omicron đối với vaccine của hãng, người phát ngôn của AstraZeneca cho biết.

Bên cạnh đó, AstraZeneca cũng đang tiến hành nghiên cứu ở những địa điểm đã xác định được biến chủng, cụ thể là ở Botswana và Eswatini. Điều này sẽ cho phép hãng thu thập dữ liệu thực tế của vaccine AstraZeneca trong việc chống lại biến chủng virus mới này.

Hỗn hợp kháng thể AZD7442 cũng đang được thử nghiệm trong việc chống lại biến chủng mới. AstraZeneca cho biết "hy vọng AZD7442 sẽ giữ được hiệu quả vì nó bao gồm hai kháng thể mạnh với các hoạt động khác nhau và bổ sung cho nhau trong việc chống lại virus”.

(Nguồn: Zing.vn)

Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:

Các loại biển chủng COVID-19 tính đến thời điểm hiện tại

Virus SARS-CoV-2 đang là nỗi lo của toàn cầu khi chúng không ngừng thay đổi cấu trúc và hình thành nên các loại biến chủng COVID-19 mới. Bài viết sau đây sẽ gửi đến bạn đọc một số thông tin về các biến chủng COVID-19 này cũng như dấu hiệu chung nhận biết một người nhiễm SARS-CoV-2.
1. Các loại biến chủng COVID-19

Virus SARS-CoV-2 là cụm từ chỉ một họ virus lớn gồm nhiều chủng loại, có khả năng gây ảnh hưởng đến hệ hô hấp, đường tiêu hóa và các bộ phận trong cơ thể, tác động tiêu cực đến sức khỏe, thậm chí là gây tử vong. Các loại biến chủng COVID-19 là thuật ngữ dùng để chỉ những loại virus có khác biệt đáng kể với các virus đồng loại của nó. Sự khác biệt này được biểu hiện cơ bản qua những khía cạnh sau: khả năng lây nhiễm, mức độ gây bệnh, mức độ chịu đựng đối với thuốc điều trị, vắc xin.

Hiện nay, virus SARS-CoV-2 không ngừng biến đổi tạo nên những chủng mới gây khó khăn cho quá trình nghiên cứu, điều trị. Một số biến chủng mới nhất gần đây như:

2. Biến thể virus SARS-CoV-2 Alpha

Biến thể Alpha hay còn có tên gọi khác là B.1.1.7, được phát hiện lần đầu tiên tại Vương quốc Anh. Đáng chú ý, đây được đánh giá là chủng virus đánh dấu sự bùng dịch trên toàn cầu vào cuối năm 2020. Theo nghiên cứu của các Nhà nghiên cứu tại Anh, chủng virus này có mức độ lây nhiễm cao hơn 70% so với một số chủng trước đó. Điều này tạo nên hồi chuông cảnh báo về mức độ nguy hiểm của chủng virus này. 

Hiện nay có rất nhiều chủng virus với mức độ nguy hiểm khác nhau

3. Biến thể Nam Phi với tên gọi phổ biến là Belta

Vào tháng 12 năm 2020, các nhà chức trách y tế Nam Phi công bố thêm một chủng virus SARS-CoV-2 mới mang tên Belta, kí hiệu B.1.351. Quá trình nghiên cứu các nhà khoa học đã khẳng định rằng, biến thể Belta này có thể nâng khả năng lây nhiễm lên cao gấp 1.5 lần so với biến thể Alpha. Loại biến thể này có ba đột biến gen là E484K, K417N, N501Y và chúng có khả năng vượt hàng rào bảo vệ một cách dễ dàng hơn, ngay cả khi đã tiêm vắc xin

4. Biển thế đến từ Brazil có tên Gamma (Dòng P.1.)

Virus SARS-CoV-2 lần đầu tiên được phát hiện trên nhóm 4 người tại Nhật Bản sau khi trở về từ Brazil (theo tờ New York Times). Sau đó, số ca nhiễm do virus này không ngừng tăng nhanh và gây ra không ít nỗi kinh hoàng trên toàn thế  giới về tốc độ lây nhiễm.

Ở biến chủng này có tồn tại một đoạn đột biến “độc đáo”, tạo nên một tốc độ lây lan, suy giảm sức khỏe người bệnh một cách nhanh chóng vượt trội. Thậm chí, chúng còn có thể gây tái nhiễm sau khi đã cho kết quả âm tính.

Tuyệt đối không nên chủ quan trước sự biến đổi cấu trúc của virus SARS-CoV-2

5. Biến thể kép Delta có nguồn gốc từ Ấn Độ

Biến thể Delta có kí hiệu là B.1.617.2, thường được gọi là biến thể kép nhằm nhấn mạnh mức độc nguy hiểm của chủng virus này. Hiện nay chúng đã xuất hiện ở rất nhiều nơi trên khắp thế giới và gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến vấn đề sức khỏe cũng như khả năng kiểm soát dịch bệnh của các quốc gia.

Biến thể Delta có sức mạnh lây lan khủng khiếp hơn rất nhiều so với các chủng trước đó. Sức mạnh truyền nhiễm của chúng cũng ở mức cảnh báo. Đặc biệt, với khả năng hạn chế hình thành triệu chứng, việc truy vết các ca bệnh nhiễm virus này thường gặp nhiều khó khăn. Tải lượng virus Delta có thể tồn tại ở khoang mũi cao gấp 1.000 lần so với những chủng đã phát hiện trước đó. Đây cũng là một trong những nguyên nhân lý giải cho tốc độ lây lan của chủng Delta.

6. Biến chủng Lambda

Giữa lúc các nghiên cứu về các loại biến chủng COVID-19 đang cho một kết quả khởi sắc thì biến chủng Lambda xuất hiện gây nên nhiều biến động. Chúng có kí hiệu là C.37 và có tính chất nguy hiểm cực kỳ lớn. Người nhiễm virus này có thể nhanh chóng rơi vào trạng thái nguy kịch, thậm chí là tử vong nếu có nhiều bệnh nền trước đó. Bên cạnh tiềm ẩn nguy cơ lây nhiễm cao, virus chủng Lambda còn có khả năng chống lại hệ thống miễn dịch.

Các loại biến chủng COVID-19 ngày càng đa dạng với mức độ lây lan nhanh chóng

7. Biến chủng Epsilon

Đây được xem là biến chủng mới nhất hiện nay, phát hiện lần đầu tiên tại Mỹ. Ở chủng mới này, chúng được chứng minh là có khả năng biến đổi tự động theo nhiều cách khác nhau nhằm tránh được lá chắn miễn dịch. Ngoài ra, những vấn đề liên quan khác vẫn đang được nghiên cứu.

8. Dấu hiệu nhận biết nguy cơ nhiễm virus SARS-CoV-2

Thực tế cho thấy rằng, không phải tất cả bệnh nhân nhiễm virus SARS-CoV-2 đều sẽ có những triệu chứng rõ ràng. Dấu hiệu nhận biết bệnh phổ biến nhất đó là ho và sốt. Tuy nhiên, những chủng COVID-19 gần đây khi xâm nhập vào cơ thể trong giai đoạn đầu hầu như không gây bất kỳ triệu chứng nào liên quan đến hệ hô hấp nhưng vẫn cho kết quả dương tính. Điều này gây ra rất nhiều khó khăn cho việc nhận biết, phân vùng và kiểm soát dịch bệnh.

9. Một số biểu hiện phổ biến khi virus SARS-CoV-2 xâm nhập là:

- Sốt là một trong những triệu chứng phổ biến nhất khi một trong các loại biến chủng COVID-19 xâm nhập vào cơ thể. Tuy nhiên cần lưu ý rằng đây còn là dấu hiệu của một số bệnh lý khác như: cảm cúm, cảm lạnh... Thông thường, nhiệt độ cơ thể dao động từ 36.5 đến 37 độ tùy thuộc vào mỗi độ tuổi, tình trạng sức khỏe. Do đó, khi cơ thể trên 37.5 độ, nên được tư vấn để chẩn đoán chính xác tình trạng sức khỏe.

- Biểu hiện điển hiện mà hầu hết các chủng virus SARS-CoV-2 đều gây ra cho người bệnh đó là ho. Dấu hiệu này thường dễ gây nhầm lẫn với một số bệnh lý viêm đường hô hấp khác như cúm. Những cơn ho do loại virus này gây ra thường kèm theo biểu hiệu rát cổ nghiêm trọng, đau tức phần xương ức và xương ngực, cảm giác có vật lạ đè nặng ở cổ.

- Mất vị giác và khứu giác cũng được xem là triệu chứng để nhận biết nhóm bệnh nguy hiểm này. Người bệnh khi ăn các loại thức ăn, thực phẩm không còn nhận diện rõ rệt được mùi vị, thậm chí mất cảm giác đối với món ăn đó.

- Khi virus SARS-CoV-2 ủ bệnh đến một giai đoạn nhất định sẽ hình thành triệu chứng khó thở khi ho khan hoặc không. Ngoài ra, có thể đi kèm với những biểu hiện như: tức ngực, ngất xỉu, rối loạn cảm xúc, da mặt tái xanh, không thể hít thở sâu,...

- Ở một số ít bệnh nhân còn xuất hiện tình trạng đau nhức cơ thể, ớn lạnh, có ảo giác hoặc rối loạn tiêu hóa.

Cần phân biệt giữa dấu hiệu nhiễm COVID-19 với các bệnh lý thông thường

11. Các loại biển chủng COVID-19 trong thời gian tới có thể thay đổi và hình thành nên một số chủng mới trong điều kiện thuận lợi. Do đó, mỗi cá nhân cần là một chiến binh phòng bệnh, tuân thủ quy định của Bộ Y tế và các cấp chính quyền để có thể nhanh chóng kiểm soát được tình dịch bệnh, bảo vệ sức khỏe bản thân.

(Nguồn: Zing.vn)

Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:

Tía tô - Một loại rau gia vị có tác dụng phòng chống SARS-CoV-2

1. Nghiên cứu mới đây trên Biomedical Journal cho thấy, chiết xuất từ lá Tía tô (một loại rau gia vị phổ biến đối với người dân Việt Nam) có khả năng phòng chống dịch bệnh Covid-19. Đây là tiền đề thúc đẩy thực hiện những nghiên cứu in vivo hoặc trên lâm sàng đối với chiết xuất lá Tía tô trong việc ngăn ngừa hoặc điều trị Covid-19.

Hiện nay, số lượng người nhiễm SARS-CoV-2 vẫn tiếp tục tăng lên nhanh, trong đó khoảng 5-10% tổng ca nhiễm trở lên diễn biến nặng, nguy hiểm đến tính mạng, do đó rất cần những phương thuốc điều trị đặc hiệu. Theo Tổ chức Y tế thế giới, hoạt chất remdesivir được đánh giá là ứng cử viên sáng giá cho điều trị SARS-CoV-2. Một số quốc gia đã phê duyệt hoạt chất này để điều trị, tuy nhiên việc sử dụng nó ở dạng đơn, không làm giảm đáng kể tỷ lệ tử vong. Kỳ lạ thay khi nghiên cứu đánh giá tác dụng của chiết xuất lá Tía tô đối với SARS-CoV-2 một số nghiên cứu chỉ ra rằng, khi phối hợp chiết xuất này với hoạt chất remdesivir thì hiệu quả đã tăng rõ rệt.

2. Khả năng phòng chống dịch bệnh Covid-19 từ chiết xuất Tía tô

Mới đây, nghiên cứu của Wen-Fang Tang và cộng sự về đánh giá hiệu quả của chiết xuất lá Tía tô đối với SARS-CoV-2 đã được đăng tải trên Tạp chí Y khoa Hoa Kỳ. Nghiên cứu dựa trên 3 yếu tố: sự ức chế lây nhiễm của virus trong tế bào; tương tác của chiết xuất lá Tía tô trực tiếp với hạt virus thông qua xét nghiệm khử hoạt tính của virus; hiệu quả hiệp đồng tác dụng của chiết xuất lá Tía tô với hoạt chất remdesivir. Các thí nghiệm được tiến hành trên tế bào vero E6 và Calu-3 (dòng tế bào phế nang phổi) cho thấy:

Chiết xuất lá Tía tô có hoạt tính chống SARS-CoV-2 trên tế bào vero E6: chiết xuất lá tía tô với EC50 là 0,12±0,06 mg/ml có khả năng ức chế SARS-CoV-2 trong tế bào Vero E6 với chỉ số chọn lọc là ∼40,65.

3. Chiết xuất lá Tía tô có thể nhắm mục tiêu vào giai đoạn đầu của chu kỳ nhiễm virus: đánh giá thời gian bổ sung thuốc để xác định giai đoạn mà thuốc ức chế trong chu kỳ nhân lên của virus, chiết xuất lá Tía tô sẽ được thêm vào ở 3 thời điểm: trước khi virus xâm nhập, trong quá trình virus hấp thụ, sau khi virus hấp phụ vào tế bào. Sau 24 giờ cho thấy, hoạt động ức chế virus diễn ra mạnh hơn khi bổ sung chiết xuất vào giai đoạn trước khi virus xâm nhập so với sau khi virus hấp thụ vào tế bào. Chiết xuất lá Tía tô ức chế sự hình thành mảng bám SARS-CoV-2 theo cách phụ thuộc liều lượng. Hoạt tính kháng virus của chiết xuất lá Tía tô tương tự như remdesivir ở mức độ ức chế hình thành mảng bám.

4. Chiết xuất lá Tía tô ức chế biểu hiện cytokine tiền viêm do virus gây ra: mục tiêu chính của SARS-CoV-2 là các tế bào biểu mô đường hô hấp và phổi. Do đó, hiệu quả kháng virus của chiết xuất lá Tía tô đã được đánh giá trên dòng tế bào phế nang phổi Calu-3 (dòng tế bào dễ bị nhiễm virus). Đúng như dự đoán, sự lây nhiễm SARS-CoV-2 diễn ra mạnh mẽ trong các tế bào Calu-3. Sự tổng hợp RNA và protein đã tăng lên rõ rệt sau 48 giờ virus hấp thụ, nhưng đều bị ức chế bởi cả remdesivir và chiết xuất lá Tía tô theo liều phụ thuộc. Chiết xuất lá Tía tô cũng làm giảm đáng kể sự giải phóng cytokine do virus gây ra và mức protein/RNA của virus trong dòng tế bào biểu mô phổi Calu-3 của người.

Chiết xuất lá Tía tô làm bất hoạt các phần tử virus và ngăn chặn sự xâm nhập của chúng vào tế bào chủ: thông qua thử nghiệm bất hoạt virus cho thấy, chiết xuất lá Tía tô có thể ức chế sự tổng hợp protein của virus và sự nhân lên của virus bằng cách trực tiếp ức chế sự xâm nhập của virus vào tế bào chủ. Do đó có hiệu quả diệt virus.

5. Có sự hiệp đồng tác dụng khi kết hợp giữa chiết xuất lá Tía tô và remdesivir: một thí nghiệm được thiết kế để đánh giá tương tác thuốc (thuốc giữa chiết xuất lá Tía tô và remdesivir) trên tế bào Vero E6 bị nhiễm SARS-CoV-2 cho thấy, việc kết hợp của chiết xuất lá Tía tô và hoạt chất remdesivir tạo ra sự hiệp đồng về tác dụng với điểm hiệp đồng là 14,98±5,84.

Những kết quả nghiên cứu trên cho thấy, chiết xuất lá Tía tô có khả năng ức chế sự nhân lên của SARS-CoV-2 bằng cách bất hoạt virion. Mặc dù mới chỉ là nghiên cứu in vitro, nhưng chúng ta cũng thấy được sự nỗ lực của các nhà khoa học với mong muốn tìm kiếm những gì có sẵn, dễ tìm để phòng và hỗ trợ điều trị bệnh Covid-19. Những dữ liệu trên là tiền đề thúc đẩy thực hiện những nghiên cứu in vivo hoặc nghiên cứu trên lâm sàng đối với chiết xuất lá Tía tô trong việc ngăn ngừa hoặc điều trị covid-19.

6. Sử dụng lá Tía tô trong phòng chống dịch bệnh Covid-19

Trước tình hình dịch bệnh Covid-19 hiện nay, dùng Tía tô để phòng và chữa bệnh lúc này có lẽ là đơn giản, rẻ tiền và an toàn. Dưới đây là một số phương pháp dễ thực hiện có thể áp dụng:

Ăn trực tiếp: lá tía tô rửa sạch, ngâm nước muối pha loãng rồi vớt ra, để ráo nước, dùng như rau sống. Bên cạnh đó, có thể bổ sung lá Tía tô tươi để tăng thêm độ đậm đà trong một số món ăn như cháo, các món từ cà tím, đậu phụ…

Trà tía tô: thêm nước vào lá Tía tô cùng đường phèn, đun sôi, lọc phần nước để nguội và bổ sung thêm nước cốt chanh rồi sử dụng.

Thuốc uống, xông: sử dụng các vị thuốc như Kinh giới 12 g, lá Tía tô 12 g, Lá lốt 8 g, Bạc hà 10 g, Trần bì 6 g, Bạch chỉ 6 g, Kim ngân hoa 8 g. Có thể dùng tươi hoặc dang khô. Cho toàn bộ các vị thuốc trên vào nồi cùng 1 lít nước và đun sôi, để nhỏ lửa trong 5-10 phút. Đổ riêng ra 1 cốc 200 ml (để

uống), phần còn lại đổ ra bát sau đó xông vùng mặt trong thời gian 10-15 phút. Sau khi bát thuốc ấm, sử dụng nước vừa xông để lau và rửa mặt.

 7. Bài thuốc Sâm tô tán trong phòng và hỗ trợ điều trị Covid-19: theo văn bản số 1306/BYT-YHCT ngày 17/3/2020 của Bộ Y tế về việc tăng cường phòng, chống bệnh viêm đường hô hấp cấp do SARS-Cov-2 bằng thuốc và các phương pháp y học cổ truyền đã hướng dẫn sử dụng một số bài thuốc, trong đó có Sâm tô tán (hòa tễ cục phương) với công dụng phong khu hàn, tuyên khai phế vệ áp dụng tốt trong giai đoạn đầu (khởi phát) và những trường hợp F0 không có triệu chứng. Bài thuốc bao gồm: Đảng sâm 30 g, Tía tô 30 g, Cát căn 30 g, Tiền hồ 30 g, Bán hạ chế 30 g, Bạch linh 30 g, Trần bì 20 g, Cam thảo 20 g, Cát cánh 20 g, Chỉ xác (sao cám) 20 g, Mộc hương 20 g. Tất cả các vị thuốc trên tán bột hoặc dùng ở dạng thuốc thang sắc.