LUYỆN CHỦ ĐỀ Đọc hiểu chủ đề y học - Đề 6

NHẬN BIẾT (78%)

THÔNG HIỂU (22%)



  • 1Làm xong biết đáp án, phương pháp giải chi tiết.
  • 2Học sinh có thể hỏi và trao đổi lại nếu không hiểu.
  • 3Xem lại lý thuyết, lưu bài tập và note lại các chú ý
  • 4Biết điểm yếu và có hướng giải pháp cải thiện

Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:

Plasma và ứng dụng trong y học

    (1) Plasma là gì? Plasma là trạng thái thứ 4 của  vật chất (ngoài 3 thể thường gặp  là rắn, lỏng và khí), trong đó các  chất bị ion hóa mạnh. Ví dụ với  nước, một viên nước đá (thể rắn)  đun nóng đến nhiệt độ nhất định  thì  thành  thể  lỏng  (nước),  tăng  nhiệt lên nữa nước sẽ bốc thành  hơi  (thể  khí).  Nếu  tiếp  tục  tăng  nhiệt độ lên cao nữa, các electron  mang điện âm bắt đầu bứt khỏi nguyên tử và chuyển động tự do,  nguyên tử trở thành các ion mang  điện dương. Nhiệt độ càng cao thì  số electron bứt ra khỏi nguyên tử  chất  khí  càng  nhiều,  hiện  tượng  này  gọi  là  sự  ion  hóa  của  chất  khí.  Các  nhà  khoa  học  gọi  thể  khí ion hóa là “trạng thái plasma”.  Plasma  không  phổ  biến  trên  trái  đất,  tuy  nhiên  trên  99%  vật  chất    thấy được trong  vũ trụ  tồn tại  dưới dạng plasma, vì thế trong 4  trạng thái vật chất, plasma được  xem như trạng thái đầu tiên trong  vũ trụ.

    (2) Theo tính chất nhiệt động lực  học,  công  nghệ  plasma  hiện  có  plasma  nóng  (thermal  plasma)  được  tạo  thành  ở  nhiệt  độ,  áp  suất  và  năng  lượng  cao;  và  plasma lạnh (cold plasma ) được  tạo thành ở áp suất thường hoặc  chân  khôn g,  cần  ít  năng  lượng  hơn. Trong khoảng hơn 10 năm  trở lại đây, các nước tiên tiến trên  thế giới đã tập trung nhiều nguồn  lực cho việc nghiên cứu ứng dụng  plasma  lạnh  trong  các  lĩnh  vực  như  y  sinh,  hóa  học  hay  nông  nghiệp... Đối với lĩnh vực y học,  plasma lạnh đang chứng tỏ được  tiềm năng rất lớn, được đánh giá  là tác nhân quan trọng tạo ra cuộc  cách mạng mới trong y sinh của  thế kỷ XXI.

    (3) Từ  lâu,  tính  năng  diệt  khuẩn  của  plasma  nóng  hay  plasma  lạnh  đã  được  biết  và  sử  dụng  trong vệ sinh dịch tễ và y tế. Tuy  vậy, plasma nóng có thể làm hại  đến  mô  xung  quanh  nên  khá  hạn  chế  dùng  trên  người.  Năm  2005,  plasma  lạnh  áp  suất  khí  quyển  (CAP)  lần  đầu  tiên  được  sử dụng để điều trị lâm sàng tại  CHLB Đức, mở ra kỷ nguyên của  “y học plasma”. Để phát triển các  thiết bị plasma lạnh áp suất khí  quyển cần sự cộng tác liên ngành  của các nhà vật lý, hóa học, sinh  học... và tất nhiên là cả các bác  sỹ lâm sàng.   

    (4) Khả năng làm bất hoạt các vi  sinh  vật  trên  bề  mặt  mà  không  làm ảnh hưởng hay ảnh hưởng rất  ít  đến  các  cấu  trúc  xung  quanh  của  plasma  đã  thu  hút  được  sự  quan  tâm  của  các  bác  sỹ.  Trên  thực tế, có rất nhiều bệnh tật gây  ra do nhiễm khuẩn trên da lành  cũng như vết thương. Vì vậy, điều  trị các vết thương chậm liền ở da  trở  thành  một  trong  những  đối  tượng  nghiên  cứu  đầu  tiên  của  plasma y tế. Thiết bị plasma lạnh  đầu  tiên  vượt  qua  thử  nghiệm  lâm sàng pha I và được cho phép  tác động trực tiếp lên con người  là máy MicroPlaster alpha, được  phát  triển  bởi  Viện  Max  Planck  (CHLB  Đức)  và  Công  ty  Công  nghệ Plasma Adtec (Nhật Bản).  

    (5) Các thử nghiệm lâm sàng đã  chứng minh, plasma lạnh rất hiệu  quả  khi  điều  trị  các  vết  thương  chậm  liền,  nhiễm  khuẩn.  Sở  dĩ  như vậy vì plasma đã tiêu diệt các  vi sinh vật cản trở quá trình liền  vết thương như: vi khuẩn, virus và  nấm. Khi tiếp xúc với vi sinh vật, plasma có thể phá vỡ màng tế bào  của chúng nhờ sự bắn phá của ion  và electron cũng như sự ăn mòn  của các gốc tự do, hoạt chất. Các  gốc tự do và tia cực tím còn có  thể xuyên qua màng tế bào của  vi sinh vật để làm mất hoạt tính  của protein, khi ến cho vi sinh vật  không thể hoạt động. Không chỉ  tiêu diệt vi khuẩn đơn lẻ, plasma  còn phá hủy màng sinh học do vi  khuẩn  tạo  ra  (màng  giúp  cho  vi  khuẩn chống chịu tốt hơn với điều  kiện bất lợi, khiến cho vết thương  khó lành).  Không chỉ tiêu diệt vi  khuẩn  thường,  plasma  còn  tiêu  diệt được vi khuẩn kháng kháng  sinh  do  plasma  là  tác  nhân  vật  lý, và đa tác nhân nên vi khuẩn  không thể biến đổi để hình thành  khả năng kháng plasma (điều này  rất hữu ích vì như chúng ta biết tốc  độ vi khuẩn phát triển thành kháng  thuốc nhanh hơn rất nhiều so với  tốc độ xuất hiện của thuốc kháng  sinh mới). Bên cạnh đó, plasma  giúp tạo nên một lớp màng protein  trên bề mặt vết thương, chống vi  khuẩn tái xâm nhập. Plasma cũng  giúp cơ thể giải phóng các yếu tố  hỗ trợ liền vết thương nhanh hơn  (như  tăng  lưu  thông  máu,  tăng  sinh tân mạch, tiêu diệt nội độc  tố,  giảm  viêm,  giảm  đau,  tăng  sinh  tế  bào,  tăng  sinh  collagen,  kích thích tái tạo biểu bì). Do đó  có thể dùng plasma điều trị các  vết thương cấp tính như bỏng, vết  mổ, các vết thương mạn tính (loét  do đái tháo đường, loét do tì đè,  loét do nằm lâu...), ứng dụng trong  da liễu (điều trị nấm, chàm...) và  thẩm  mỹ  (chữa  mụn  trứng  cá,  vết thương sau phẫu thuật thẩm  mỹ)...  Các  nghiên  cứu  mới  đây  còn cho thấy plasma có rất nhiều  triển  vọng  trong  chữa  ung  thư,  đặc biệt là ung thư máu.

    (6) Hiện  nay,  công  nghệ  plasma  lạnh ứng dụng trong điều trị vết  thương hở đã được áp dụng tại một  số quốc gia:  Đức, Israel, Nga.  Ở  Việt Nam, Công ty Cổ phần Công  nghệ Plasma Việt Nam là đơn vị  đầu tiên nghiên cứu sản xuất máy  phát tia plasma lạnh (PlasmaMed)  ứng dụng cho điều trị vết thương  dựa trên sáng chế “Máy phát tia  plasma  lạnh  ứng  dụng  trong  y  sinh”  số  14627  do  Cục  Sở  hữu  trí tuệ cấp ngày 29/9/2015. Máy  PlasmaMed do Công ty sản xuất  được  nghiên  cứu  và  phát  triển  từ các đề tài KH&CN cấp cơ sở:  “Thiết kế, chế tạo nguồn plasma  jet  phục  vụ  nghiên  cứu  plasma  y  sinh”;  “Nghiên  cứu  khả  năng  điều trị một số bệnh da liễu bằng  plasma lạnh”... do các nhà khoa  học thuộc Viện Vật lý, Viện Hàn  lâm  Khoa  học  và  Công  nghệ  (KH&CN)  Việt  Nam  thực  hiện.  Sản phẩm cũng đã nhận được sự  hỗ trợ của Chương trình Đối tác  đổi mới sáng tạo Việt Nam - Phần  Lan IPP giai đoạn 2 (IPP2) và Dự  án  Đẩy  mạnh  đổi  mới  sáng  tạo  thông  qua  nghiên  cứu,  KH&CN  (FIRST) do Bộ KH&CN quản lý.  

    (7) Hiện nay, máy PlasmaMed đã  được  áp  dụng  điều  trị  tại  nhiều  bệnh viện tuyến trung ương như:  Việt  Đức,  Phụ  sản  trung  ương,  Nhi trung ương, Lão khoa, Nội tiết  trung ương, Chợ Rẫy... và nhiều  bệnh  viện  tuyến  dưới,  với  trên  10.000  ca  điều  trị.  Kết  quả  cho  thấy đây là một hướng điều trị vết  thương  cho  hiệu  quả  cao,  giảm  đáng kể chi phí điều trị.

    (8) Trên thế giới hiện có ngày càng  nhiều  nghiên  cứu  về  plasma,  cũng như phát triển plasma lạnh.  Ngoài lĩnh vực y học, plasma lạnh  còn có khả năng ứng dụng trong  nhiều  lĩnh  vực  công  nghệ  khác  như chế tạo linh kiện điện tử, xử  lý bề mặt sơn phủ, bảo quản thực  phẩm...  Đây  là  cơ  hội  cho  Việt  Nam tiếp cận với xu hướng phát  triển của thế giới. Đặc biệt là xu  hướng nghiên cứu y học plasma,  một hướng khoa học liên ngành  (vật lý - sinh học - y học) có tiềm  năng  ứng  dụng  rất  lớn,  nhưng  không  đòi  hỏi  trang  thiết  bị  đắt  tiền, sẽ mở ra một cánh cửa để  ngành vật lý plasma ở Việt Nam  có  thể  song  hành  cùng  vật  lý  plasma thế giới.  

(Nguồn: “Plasma và ứng dụng trong y học”, Đỗ Hoàng Tùng, Tạp chí Khoa học & Công nghệ Việt Nam, số 9, năm 2019)

Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:

Các loại biển chủng COVID-19 tính đến thời điểm hiện tại

Virus SARS-CoV-2 đang là nỗi lo của toàn cầu khi chúng không ngừng thay đổi cấu trúc và hình thành nên các loại biến chủng COVID-19 mới. Bài viết sau đây sẽ gửi đến bạn đọc một số thông tin về các biến chủng COVID-19 này cũng như dấu hiệu chung nhận biết một người nhiễm SARS-CoV-2.
1. Các loại biến chủng COVID-19

Virus SARS-CoV-2 là cụm từ chỉ một họ virus lớn gồm nhiều chủng loại, có khả năng gây ảnh hưởng đến hệ hô hấp, đường tiêu hóa và các bộ phận trong cơ thể, tác động tiêu cực đến sức khỏe, thậm chí là gây tử vong. Các loại biến chủng COVID-19 là thuật ngữ dùng để chỉ những loại virus có khác biệt đáng kể với các virus đồng loại của nó. Sự khác biệt này được biểu hiện cơ bản qua những khía cạnh sau: khả năng lây nhiễm, mức độ gây bệnh, mức độ chịu đựng đối với thuốc điều trị, vắc xin.

Hiện nay, virus SARS-CoV-2 không ngừng biến đổi tạo nên những chủng mới gây khó khăn cho quá trình nghiên cứu, điều trị. Một số biến chủng mới nhất gần đây như:

2. Biến thể virus SARS-CoV-2 Alpha

Biến thể Alpha hay còn có tên gọi khác là B.1.1.7, được phát hiện lần đầu tiên tại Vương quốc Anh. Đáng chú ý, đây được đánh giá là chủng virus đánh dấu sự bùng dịch trên toàn cầu vào cuối năm 2020. Theo nghiên cứu của các Nhà nghiên cứu tại Anh, chủng virus này có mức độ lây nhiễm cao hơn 70% so với một số chủng trước đó. Điều này tạo nên hồi chuông cảnh báo về mức độ nguy hiểm của chủng virus này. 

Hiện nay có rất nhiều chủng virus với mức độ nguy hiểm khác nhau

3. Biến thể Nam Phi với tên gọi phổ biến là Belta

Vào tháng 12 năm 2020, các nhà chức trách y tế Nam Phi công bố thêm một chủng virus SARS-CoV-2 mới mang tên Belta, kí hiệu B.1.351. Quá trình nghiên cứu các nhà khoa học đã khẳng định rằng, biến thể Belta này có thể nâng khả năng lây nhiễm lên cao gấp 1.5 lần so với biến thể Alpha. Loại biến thể này có ba đột biến gen là E484K, K417N, N501Y và chúng có khả năng vượt hàng rào bảo vệ một cách dễ dàng hơn, ngay cả khi đã tiêm vắc xin

4. Biển thế đến từ Brazil có tên Gamma (Dòng P.1.)

Virus SARS-CoV-2 lần đầu tiên được phát hiện trên nhóm 4 người tại Nhật Bản sau khi trở về từ Brazil (theo tờ New York Times). Sau đó, số ca nhiễm do virus này không ngừng tăng nhanh và gây ra không ít nỗi kinh hoàng trên toàn thế  giới về tốc độ lây nhiễm.

Ở biến chủng này có tồn tại một đoạn đột biến “độc đáo”, tạo nên một tốc độ lây lan, suy giảm sức khỏe người bệnh một cách nhanh chóng vượt trội. Thậm chí, chúng còn có thể gây tái nhiễm sau khi đã cho kết quả âm tính.

Tuyệt đối không nên chủ quan trước sự biến đổi cấu trúc của virus SARS-CoV-2

5. Biến thể kép Delta có nguồn gốc từ Ấn Độ

Biến thể Delta có kí hiệu là B.1.617.2, thường được gọi là biến thể kép nhằm nhấn mạnh mức độc nguy hiểm của chủng virus này. Hiện nay chúng đã xuất hiện ở rất nhiều nơi trên khắp thế giới và gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến vấn đề sức khỏe cũng như khả năng kiểm soát dịch bệnh của các quốc gia.

Biến thể Delta có sức mạnh lây lan khủng khiếp hơn rất nhiều so với các chủng trước đó. Sức mạnh truyền nhiễm của chúng cũng ở mức cảnh báo. Đặc biệt, với khả năng hạn chế hình thành triệu chứng, việc truy vết các ca bệnh nhiễm virus này thường gặp nhiều khó khăn. Tải lượng virus Delta có thể tồn tại ở khoang mũi cao gấp 1.000 lần so với những chủng đã phát hiện trước đó. Đây cũng là một trong những nguyên nhân lý giải cho tốc độ lây lan của chủng Delta.

6. Biến chủng Lambda

Giữa lúc các nghiên cứu về các loại biến chủng COVID-19 đang cho một kết quả khởi sắc thì biến chủng Lambda xuất hiện gây nên nhiều biến động. Chúng có kí hiệu là C.37 và có tính chất nguy hiểm cực kỳ lớn. Người nhiễm virus này có thể nhanh chóng rơi vào trạng thái nguy kịch, thậm chí là tử vong nếu có nhiều bệnh nền trước đó. Bên cạnh tiềm ẩn nguy cơ lây nhiễm cao, virus chủng Lambda còn có khả năng chống lại hệ thống miễn dịch.

Các loại biến chủng COVID-19 ngày càng đa dạng với mức độ lây lan nhanh chóng

7. Biến chủng Epsilon

Đây được xem là biến chủng mới nhất hiện nay, phát hiện lần đầu tiên tại Mỹ. Ở chủng mới này, chúng được chứng minh là có khả năng biến đổi tự động theo nhiều cách khác nhau nhằm tránh được lá chắn miễn dịch. Ngoài ra, những vấn đề liên quan khác vẫn đang được nghiên cứu.

8. Dấu hiệu nhận biết nguy cơ nhiễm virus SARS-CoV-2

Thực tế cho thấy rằng, không phải tất cả bệnh nhân nhiễm virus SARS-CoV-2 đều sẽ có những triệu chứng rõ ràng. Dấu hiệu nhận biết bệnh phổ biến nhất đó là ho và sốt. Tuy nhiên, những chủng COVID-19 gần đây khi xâm nhập vào cơ thể trong giai đoạn đầu hầu như không gây bất kỳ triệu chứng nào liên quan đến hệ hô hấp nhưng vẫn cho kết quả dương tính. Điều này gây ra rất nhiều khó khăn cho việc nhận biết, phân vùng và kiểm soát dịch bệnh.

9. Một số biểu hiện phổ biến khi virus SARS-CoV-2 xâm nhập là:

- Sốt là một trong những triệu chứng phổ biến nhất khi một trong các loại biến chủng COVID-19 xâm nhập vào cơ thể. Tuy nhiên cần lưu ý rằng đây còn là dấu hiệu của một số bệnh lý khác như: cảm cúm, cảm lạnh... Thông thường, nhiệt độ cơ thể dao động từ 36.5 đến 37 độ tùy thuộc vào mỗi độ tuổi, tình trạng sức khỏe. Do đó, khi cơ thể trên 37.5 độ, nên được tư vấn để chẩn đoán chính xác tình trạng sức khỏe.

- Biểu hiện điển hiện mà hầu hết các chủng virus SARS-CoV-2 đều gây ra cho người bệnh đó là ho. Dấu hiệu này thường dễ gây nhầm lẫn với một số bệnh lý viêm đường hô hấp khác như cúm. Những cơn ho do loại virus này gây ra thường kèm theo biểu hiệu rát cổ nghiêm trọng, đau tức phần xương ức và xương ngực, cảm giác có vật lạ đè nặng ở cổ.

- Mất vị giác và khứu giác cũng được xem là triệu chứng để nhận biết nhóm bệnh nguy hiểm này. Người bệnh khi ăn các loại thức ăn, thực phẩm không còn nhận diện rõ rệt được mùi vị, thậm chí mất cảm giác đối với món ăn đó.

- Khi virus SARS-CoV-2 ủ bệnh đến một giai đoạn nhất định sẽ hình thành triệu chứng khó thở khi ho khan hoặc không. Ngoài ra, có thể đi kèm với những biểu hiện như: tức ngực, ngất xỉu, rối loạn cảm xúc, da mặt tái xanh, không thể hít thở sâu,...

- Ở một số ít bệnh nhân còn xuất hiện tình trạng đau nhức cơ thể, ớn lạnh, có ảo giác hoặc rối loạn tiêu hóa.

Cần phân biệt giữa dấu hiệu nhiễm COVID-19 với các bệnh lý thông thường

11. Các loại biển chủng COVID-19 trong thời gian tới có thể thay đổi và hình thành nên một số chủng mới trong điều kiện thuận lợi. Do đó, mỗi cá nhân cần là một chiến binh phòng bệnh, tuân thủ quy định của Bộ Y tế và các cấp chính quyền để có thể nhanh chóng kiểm soát được tình dịch bệnh, bảo vệ sức khỏe bản thân.

(Nguồn: Zing.vn)