Cảm nhận về hình ảnh người bà của tác giả Nguyễn Duy trong bài thơ Đò Lèn

   Một câu thơ hay không chỉ giúp ta thấy được tình cảm để đồng cảm mà còn khiến ta quên đi ranh giới mình - ta, quên đi cảm xúc ấy là của ai mà cùng hòa vào với thế giới bên trong tác phẩm ấy. Đôi khi, chỉ đơn giản là những câu thơ mộc mạc, những hình ảnh quen thuộc… Và Nguyễn Duy đã làm được điều đó qua hình tượng nhân vật người bà trong “Đò Lèn”.

     Bài thơ “Đò Lèn” được sáng tác theo lối thơ tự do hiện đại, Bắt đầu từ một điểm ở thực tại, nhà thơ nhìn về quá khứ và bày tỏ kí ức, suy tư, tình cảm của mình về người bà dấu yêu. Mạch thơ hồn nhiên, dung dị, giọng thơ pha lẫn giữa bông lơn, nghiêm túc và xót xa, cay đắng. Nhờ chất giọng này mà những hình ảnh ngỡ như rất xưa cũ đã được làm mới lại trong cái bể tinh thần chứa đầy triết lí, hoài niệm sâu xa. Thơ Nguyễn Duy mang đậm chất trí tuệ trên cái nền ngôi từ bình dị, ngỡ như không có gì trau chuốt, đáng bàn.

     Hình ảnh người bà hiện lên trong hồi ức của cháu, qua những lời cháu kể.

     Đó là một người bà vất vả trong công cuộc mưu sinh:

“Tôi đâu biết bà tôi cơ cực thế

bà mò cua xúc tép ở đồng Quan

bà đi gánh chè xanh Ba Trại

quán Cháo, Đồng Giao thập thững những đêm hàn

     Một chữ “thập thững” mang theo bao bước chân già nua trong đói rét, như có cả hơi thở hổn hển. Không phải bước chân hốt hoảng của Hoàng Cầm: “Bước cao thấp bên bờ tre hun hút” (“Bên kia sông Đuống”) mà là bước đi thường ngày của người già: bước lên – bước xuống theo nhịp quang gánh trĩu nặng, yếu ớt. Những địa danh riêng “Quán cháo, đồng Quan, Đồng Giao,…” mà vẫn đem lại cảm xúc chung về quê hương nguồn cội; bà của “tôi” mà như của mọi người. “Tôi đâu biết” là cái giật mình đầy xa xót như cái giật mình đầy xa xót của biết bao người con khi nghĩ về bà, về mẹ - những người phụ nữ Việt Nam. Đại từ “tôi” bé nhỏ, âm thầm, không phải cái thế kiêu bạc của người lính chiến “ung dung buồng lái ta ngồi” (Phạm Tiến Duật) mà trĩu nặng những ân tình, bộc bạch, sẻ chia. Những nhận thức, ăn năn về đạo đức cứ nhẹ nhàng đến mà thấm thía như thế.

     Bà còn là hiện thân của tình yêu thương và đức hi sinh. Đằng sau cái vất vả , lam lũ là tình yêu thương vô bờ bến của bà dành cho cháu. Đằng sau cái lặng lẽ âm thầm là đức hi sinh cao quý. Trong kí ức của cháu, tự bao giờ bà đã đồng nhất với “Tiên, Phật, thánh thần”:

“Tôi trong suốt giữa hai bờ hư - thực

giữa bà tôi và tiên phật, thánh thần

cái năm đói củ dong riềng luộc sượng

cứ nghe thơm mùi huệ trắng hương trầm”

     “Trong suốt” – một cảm nghiệm tâm linh hay một ảo giác, một tín ngưỡng trong tâm hồn thơ dại? “Tiên, Phật, thánh thần” là hư mà cũng từng là thực trong niềm tin tuổi nhỏ. Bà là thực mà cũng là hư trong bao điều mà “tôi đâu biết”. Những tương phản tạo nên sức ám ảnh của câu thơ: hư – thực, hiện thực (“củ dong riềng luộc sượng”) và tâm linh huyền ảo (“mùi huệ trắng hương trầm”) hay niềm tin vượt lên hiện thực? Cái đói là hiện thực nhưng nó cũng không giết được cái đẹp mà giữ người ta trong trạng thái “trong suốt” – nhìn xuyên thấu, hòa nhập vào tâm linh. Trong mắt cháu, bà hiện lên là một ám ảnh, một niềm vui, một nỗi xót xa và cả sự tâm linh lạ kì.

     Sự kiện “Bom Mĩ dội nhà bà tôi bay mất” khiến nhân vật bừng tỉnh. Bầu trời cổ tích vỡ tan và hiện thực nghiệt ngã về cuộc đời hiện ra: “Bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn”. Sự bừng tỉnh đánh dấu bước ngoặt trong cuộc đời nhân vật trữ tình. Cậu bé hồn nhiên sống trong tình yêu thương vô điều kiện đã bước khỏi tuổi thơ để nhìn thấy bà trong đời thực. Khiến thánh thần bay mất: “thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết” như đang giải huyền thoại cho một niềm tin ngây thơ. Có sự hạ bệ thần thánh. Nhưng điều đặc biệt ở đấy là: hạ bệ trên cơ sở không tuyệt đối phủ nhận. Phép giải thiêng này đồng nghĩa với việc khẳng định sự trưởng thành của con người và cả sự trỗi dậy về nhận thức của con người đó. Cả bài thơ là sự đánh thức nhận thức sâu sắc về cuộc đời: thế giới này sẽ vĩnh viễn không bao giờ là cổ tích. Cổ tích chỉ là giấc mơ do con người ảo tưởng xây dựng lên mà thôi. Những ngôn ngữ đậm chất dân dã, hài hước càng rõ nét cho sự giải thiêng để khẳng định sức sống của con người bình thường.

     Đến những câu thơ cuối cùng, hình ảnh của bà là hình ảnh của chân lí, là tiếng nói cuối cùng thức tỉnh mỗi con người:

“khi tôi biết thương bà thì đã muộn

bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi!”

     Cách kể “Tôi đi lính lâu không về quê ngoại” ngỡ như một lời tự sự bình thường mà dồn nén thời gian cả một cuộc chiến, chất chứa trong đó cả một cuộc đời. Đứa trẻ năm nào nhìn dòng sông trong sự toàn vẹn của nó: “bên lở bên bồi”. Thì ra, cuộc đời này vẫn luôn là thế: là sự được – mất, thành – không luôn song hành. Con người ta đôi khi để có được điều gì đó lại phải đánh đổi những điều rất quý giá của mình. Đôi khi, đến cuối con đường, lại nhận ra sự trả giá ấy là quá đắt: “biết thương bà thì đã muộn”. Cái “nấm cỏ” kia có thể là “cỏ khâu xanh rì” hay “sè sè nắm đất bên đường”, chẳng hề vô tri mà là cuộc đời của cả một con người, là dòng thác cuộn chảy của cả một thời kì lịch sử.

     Bài thơ gồm sáu khổ. Mỗi khổ dường như tồn tại độc lập. Câu cuối mỗi khổ như “nhãn cú” của khổ thơ ấy. Câu kết của bài thơ là “nhãn cú” cho toàn bộ bài. Một giọng thơ trữ tình ấm áp, hài hước, pha chút khinh bạc, đắng cay nhưng thấm đẫm nghĩa tình, đó chính là điều chúng ta cảm nhận được từ “Đò Lèn”. Chính nhờ cái giọng điệu bên ngoài có vẻ là bỡn cợt, bên trong là chua xót; nhờ lối cảm xúc hai tầng: bên trên là vô tư, vo lo, bên dưới là sự thấu hiểu đời đến tái tê; nhờ cách sử dụng ngôn ngữ: bên trên là cũ mòn nhưng bên dưới là cả sự dụng công. Nghệ thuật đạt đến đỉnh cao thì lại trở nên bình dị. Thơ Nguyễn Duy là vậy.

     Vậy ra, từ những cái nhìn bình thường, từ những điều thường nhỏ nhặt, từ một câu chuyện kể vể quá khứ mơ mộng vỡ tạn vì chiến tranh, không hề có sự gượng ép, nhà thơ đã gắn kết chúng thành nghệ thuật. Chúng trở nên thuộc về nhau một cách kì lạ và thuộc về bản lĩnh thơ độc đáo Nguyễn Duy.