Hoàn thành cách mạng tư sản ở châu Âu và Mĩ giữa thế kỉ XIX

1. CUỘC ĐẤU TRANH THỐNG NHẤT NƯỚC ĐỨC

a, Tình hình nước Đức

- Giữa thế kỷ XIX, kinh tế tư bản Đức phát triển nhanh chóng, Đức trở thành nước công nghiệp: đội ngũ công nhân tăng từ 5 lên 18 vạn (1849 – 1859); Béc-lin trở thành trung tâm sáng tạo máy móc.

- Phương thức kinh doanh theo đường lối tư bản chủ nghĩa đã xâm nhập vào sản xuất: sử dụng máy móc, thuê mướn công nhân, đẩy mạnh khai thác... tạo nên tầng lớp quý tộc tư sản gọi chung là Gioong-ke.

b, Quá trình thống nhất Đức

- Nước Đức bị chia xẻ thành nhiều vương quốc nhỏ, cản trở sự phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa => Yêu cầu cần thống nhất đất nước ngày càng cấp thiết.

- Bộ phận quý tộc quân phiệt Phổ, đại diện là Bix – mác có sự ủng hộ của giai cấp tư sản đã dùng vũ lực thống nhất đất nước bằng ba cuộc chiến tranh. Năm 1864, Bi-xmác tấn công Đan Mạch, chống Áo (1866), chống Pháp (1870- 1871).

- Kết quả: Năm 1867 Liên bang Bắc Đức ra đời gồm 18 quốc gia Bắc Đức và 3 thành phố tự do, hiến pháp được thông qua thừa nhận quyền lực tối cao thuộc về vua Phổ và hạn chế vai trò của Quốc hội.

- Năm 1870 - 1871, Bi-xmác gây chiến với Pháp thu phục các bang miền Nam hoàn thành thống nhất Đức.

-  Ngày 18-1-1871, vua Phổ Vin-hem I lên ngôi hoàng đế, Bi-xmác trở thành Thủ tướng, Hiến pháp mới được ban hành (4 – 1871) qui định Đức gồm 22 bang và 3 thành phố tự do, củng cố vai trò của quý tộc quân phiệt Phổ.

c, Tính chất: 

Việc thống nhất nước Đức là một cuộc Cách mạng tư sản, tạo điều kiện cho kinh tế tư bản cách mạng phát triển mạnh mẽ ở Đức.

Ở Đức do sự thỏa hiệp của giai cấp tư sản và quý tộc phong kiến, giai cấp vô sản chưa đủ trưởng thành để tiến hành thống nhất đất nước bằng con đường Cách mạng - con đường "Từ dưới lên", quá trình thống nhất đất nước được thực hiện bằng con đường chiến tranh vương triều - "Từ trên xuống", thông qua quí tộc Phổ - đại diện là Bi-xmác. Với chính sách phản động đã đưa nước Đức thành một đồn lũy phản động, nhất là dẫn đến chủ nghĩa quân phiệt xâm lược và là trung tâm xảy ra các cuộc chiến tranh ở châu Âu.

2. NỘI CHIẾN Ở MĨ

- Sau chiến tranh giành độc lập, Hoa Kỳ gồm 13 bang ven Đại Tây Dương.

- Giữa thế kỷ XIX lãnh thổ kéo dài tới bờ Thái Bình Dương, gồm 30 bang.

a, Tình hình Mĩ trước khi nội chiến (Nguyên nhân sâu xa)

- Kinh tế Mĩ giữa thế kỷ XIX tồn tại theo 2 con đường:

+ Miền Bắc: phát triển nền công nghiệp tư bản chủ nghĩa.

+ Miền Nam: phát triển kinh tế đồn điền dựa trên bóc lột sức lao động nô lệ.

- Nông nghiệp:

+ Miền Bắc và miền Tây: kinh tế trại chủ nhỏ và nông dân tự do chiếm ưu thế phục vụ thị trường công nghiệp.

+ Miền Nam: kinh tế đồn điền phát triển dựa trên sức lao động nô lệ làm giàu nhanh chóng cho giới chủ nô. Tuy nhiên, chế độ nô lệ đã cản trở nền kinh tế tư bản chủ nghĩa phát triển.

- Mâu thuẫn giữa tư sản và trại chủ nhỏ ở miền Bắc với chủ nô miền Nam ngày càng dẫn đến phong trào đấu tranh đòi thủ tiêu chế độ nô lệ mở đường cho CNTB phát triển.

b, Nguyên nhân trực tiếp

- Lin-côn ứng cử viên của Đảng Cộng hòa đại diện cho giai cấp tư sản và trại chủ miền Bắc trúng cử Tổng thống đe dọa quyền lợi các chủ nô ở miền Nam (vì Đảng Cộng hòa chủ trương bác bỏ chế độ nô lệ).

- 11 bang phản đối tách khỏi Liên bang thành lập Hiệp bang mới có chính phủ, Tổng thống riêng và chuẩn bị lực lượng chống lại chính phủ Trung ương.

c, Diễn biến

d, Ý nghĩa

- Là cuộc Cách mạng tư sản lần thứ 2 ở Mĩ.

- Xóa bỏ chế độ nô lệ ở miền Nam tạo điều kiện cho chủ nghĩa tư bản phát triển.

- Nền kinh tế Mĩ phát triển nhanh chóng sau nội chiến.