Phân tích bài thơ Vịnh khoa thi Hương của Trần Tế Xương

Đề bài: Phân tích bài thơ Vịnh khoa thi Hương của Trần Tế Xương.

Bài làm

Thơ Tú Xương là tiếng nói của thời đại, của dân tộc và cũng là tiếng nói thiết tha sâu kín tự đáy lòng mình. Nếu ông Tú “ban ngày” cười nói, bỡn cợt với người đời thì ông Tú “ban đêm” lại âm thầm một mình một bóng, lặng lẽ suy tưởng và lắng nghe tiếng vọng u buồn của cuộc sống nô lệ, buồn tủi, của sông núi tang thương. Hai con người đó tưởng như mâu thuẫn nhưng trái lại, đó là những suy nghĩ của một con người đầy trách nhiệm với cuộc đời. Cho nên từ cảnh trường thi nhốn nhác, nhà thơ đã mỉa mai, chua xót trước tình trạng suy tàn của nền Nho học cuối mùa, đồng thời thể hiện tâm trạng đau đớn, xót xa của tác giả. Bài thơ Vịnh khoa thi Hương thật sâu sắc, độc đáo:

Nhà nước ba năm mở một khoa

Trường Nam thi lẫn với trường Hà

Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ

Ậm ọe quan trường miệng thét loa

Cờ cắm rợp trời quan sứ đến

Váy lê quét đất mụ đầm ra

Nhân tài đất Bắc nào ai đó

Ngoảnh cổ mà trông cảnh nước nhà.

Có thể nói, một nửa phần thơ Tú Xương nảy nở từ mảnh đất Nam Định đang thay đổi từ thời kì xã hội phong kiến tàn tạ sang thời kì xã hội thực dân lố lăng, dơ dáy. Nhìn vào đâu nhà thơ cũng thấy đầy rẫy nghịch cảnh, cảnh và người với những bức tranh cuộc sống, những chân dung con người, những quan hệ xã hội đang cười, đáng chê trách. Tiếng cười ấy bật lên chua chát, đắng cay từ cảnh trường thi, nơi Tú Xương tám lần dấn thân vào thì hầu như đều thất bại:

Nhà nước ba năm mở một khoa

Trường Nam thi lẫn với trường Hà...

Hai câu thơ mở đầu đã đưa ra một thông tin vừa bình thường, vừa không bình thường. Câu thứ nhất thông tin bình thường, có âm điệu trang trọng bởi nhịp 2/2/3 và các từ trang trọng nhà nước, mở một khoa. Từ nhà nước chỉ chính quyền thực dân nửa phong kiến mới được thiết lập. Thông lệ ngày trước cử ba năm có một khoa thi chữ Hán vào các năm: Tí, Ngọ, Mão, Dậu. Đó là những khoa thi được tổ chức đúng nề nếp, quy tắc từ xa xưa.

Nhưng đến câu thứ hai đã xuất hiện tin không bình thường, lời thơ đã chuyển sang âm điệu 4/3: Trường Nam thi lẫn với trường Hà. Các từ nói tắt trường Nam (trường thi ở Nam Định), trường Hà (trường thi ở Hà Nội), gợi cảm giác thiếu nghiêm chỉnh. Đặc biệt hai từ thi lần như báo một điều gì về sự pha tạp sắp xảy ra. Như vậy, mở đầu bài thơ Tú Xương đã sử dụng sự đối lập tuy nhẹ nhàng nhưng có tác dụng gợi cười, gợi suy ngẫm thú vị cho người đọc. Đến các câu thơ tiếp theo, sự đối lập trớ trêu gây cười đã được khắc họa độc đáo, rõ nét:

Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ

Ậm ọe quan trường miệng thét loa.

Cảnh trường thi mới nhốn nháo làm sao. Sĩ tử đến trường thi vốn là những bậc bảng khoa xưa nay được người đời trân trọng, bản thân họ cũng từng tỏ rõ những phong thái ung dung, đàng hoàng của lớp người có học, có chữ. Vậy mà nay hình hài thân phận họ lại Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ. Quan giám khảo trường thì âm ọe, lúng túng, ra oai gượng gạo, mất hết vẻ đàng hoàng, chững chạc vốn phải có. Hai dáng vẻ đối lập nhưng mang chung một nghĩa. Đó là cảnh hỗn độn, nhếch nhác, là nét tàn tạ chung của thi cử, cũng là của nền Nho học lúc bấy giờ. Đặc tả sự tàn tạ, trớ trêu của những trường thi lúc bấy giờ, Tú Xương đồng thời cất lên bao tiếng thở than trước sự tàn tạ của nền Nho học cuối mùa trong một số bài thơ khác:

Nào có ra gì cái chữ Nho

Ông Nghè, ông Cống cũng nằm co.

(Chữ Nho)

Hay:

Đạo học ngày nay đã chán rồi

Mười người đi học chín người thôi

Cô hàng bán sách lim dim ngủ

Thầy khóa tư hương nhấp nhổm ngồi

(Than đạo học)

Hai câu thơ tiếp theo, nhà thơ đã thể hiện nghệ thuật đối rất đặc sắc dựa trên những nét điển hình rất riêng ấy:

Cờ cắp rợp trời quan sứ đến

Váy lễ quét đất mụ đầm ra.

Sự xuất hiện của quan sứ và mụ đầm tại trường thi của người nước Nam đã là một đối lập trớ trêu. Nó báo hiệu người làm chủ trường thi không còn là các sĩ tử, quan trường của ta mà là bọn xâm lược Pháp. Bởi vì trong khi cả thầy và trò lôi thôi, âm ọe thiểu đàng hoàng thì quan sứ và mụ đầm lại nghênh ngang, hợm hĩnh bước dưới cờ cắm rợp trời, trong váy lễ quét đất. Cảnh thật chua chát! Nhà thơ dùng mấy cặp đối liên tiếp: quan sứ (cách gọi tôn kính) đối với mụ đầm (cách gọi sỗ sàng), đến (từ nơi khác đi tới) đối với ra (chỗ này ra chỗ khác) đặc biệt là cờ cắm (tĩnh, đồ vật trang trọng) đối với váy lệ (động, đồ vật thô tạp...) Tất cả hiện lên thật chướng mắt, đáng cười, đáng khinh. Trong một bài thơ khác, Tú Xương cũng đề cập đến cái nghịch cảnh này:

Trên ghế bà đầm ngội địt vịt

Dưới sân ông cứ ngẩng đầu rồng

(Giễu người thi đỗ).

Bản thân những hình ảnh gắn với hai loại người: sĩ tử và quan trường của ta với tên quan sứ và mụ đầm đầy rẫy những đối lập. Người đời từ ngang tại chướng mắt đã toát lên tiếng cười chua chát, mỉa mai cùng Tú Xương. Cảnh trường thi nhốn nháo ta, Tây cũng chính là hình ảnh của một xã hội pha tạp hỗn độn buổi đầu thực dân Pháp đặt ách thống trị trên đất nước. Những nét tả thực đến trần trụi như thể trong thơ Tú Xương có rất nhiều. Từ những hình ảnh, âm thanh, câu chữ, cách đối, đảo ngữ... trong bài thơ đã bật ra những tiếng cười vừa mạnh mẽ, vừa thấm thía, nhiều khi trong tiếng cười có tiếng nấc nghẹn ngào, xót xa.

Và tiếng nấc nghẹn ngào xót xa ấy phải chăng xuất phát từ trong trái tim thương đời, đau xót cho thế sự của Tú Xương. Có thể nói, dòng trữ tình quần quại da diết là một sắc độ đậm đà không kém dòng trào phúng trong hôn thơ ông. Cuộc đời ông thất bại nhiều hơn thành đạt. Sống giữa cái thành phố hỗn độn, đổi thay, đảo ngược, xấu tốt lẫn lộn, bọn thống trị, kẻ giàu sang tuy ít nhưng hoành hành ngang dọc, người bị trị, nạn nhân của những thói đời dơ dáy thì nhiều... Do đó đằng sau tiếng cười, Tú Xương thường nấc nghẹn, nuối tiếc, xót thương. Hai câu thơ cuối đã thể hiện sâu sắc nỗi lòng Tú Xương:

Nhân tài đất Bắc nào ai đó

Ngoảnh cổ mà trông cảnh nước nhà.

Lời nhắn nhủ bạn bè của Tú Xương thật thống thiết. Nụ cười đến đây bỗng nghẹn lại, nức nở... Đúng như Nguyễn Tuân đã nói nửa cười nửa mếu, Nhà thơ giễu cợt cảnh đời, đả kích lũ người xấu xa đồng thời xót thương đất nước, xã hội bị biến động suy tàn. Nụ cười có ngần nước mắt, cái hài thấm trong cái bị. Và như thể, sau những lời chửi bới om sòm, những lời thơ kiêu bạo, Tú Xương lại một mình đối diện đàm tâm mà... xót xa! Tấm lòng ấy thật đáng quý biết bao.

Như vậy, bài thơ được viết theo thể thất ngôn bát cú Đường luật, câu chữ đối rất chính nhưng lại mở ra những ý nghĩa không cùng. Ngôn từ thơ Tú Xương có khả năng biểu hiện sâu sắc cực độ của thế giới trữ tình, sự phong phú đa dạng và huyền diệu của thế giới nghệ thuật. Tú Xương đích thực là người nghệ sĩ tiêu biểu khép lại thế kỉ XIX của văn học trung đại, chuẩn bị cho thế kỉ XX của văn học hiện đại. Đó là một trái tim, một linh hồn, một trí tuệ, một tài năng... (Vũ Dương Quỹ). Thơ văn của ông nói chung và con người ông nói riêng sẽ còn mãi trong tâm hồn bạn đọc bao thế hệ:

Kìa ai chín suối Xương không nát

Có lẽ nghìn thu tiếng vẫn còn.

(Nguyễn Khuyến)